https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/issue/feedVNUHCM Journal of Social Sciences and Humanities2026-05-07T23:00:34+07:00Hoang Ngoc Minh Chau[email protected]Open Journal Systemshttps://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1171Leveraging the Religious Value Systems of Catholicism and Protestantism as Resources for Sustainable Development of Local Ethnic Minorities: The Case in Lam Dong Province2026-04-21T15:53:23+07:00Lan Thi Phuong Ngo[email protected]Thu Ngoc Huynh[email protected]Ha Thi My Le[email protected]<p>This article investigates the religious value systems of Catholicism and Protestantism among local ethnic minority communities in Lam Dong province, Vietnam, and their contributions to sustainable development. Drawing on the qualitative data collected through in-depth interviews and participant observation among the Co Ho, Chu Ru, and M’nong groups, the study examines how religious ethics are manifested in everyday practices across spiritual, economic, cultural, social, and environmental domains. The findings reveal that: (1) religious teachings cultivate values such as diligence, honesty, and environmental stewardship; (2) traditional cultural elements are preserved through their integration with religious rituals; (3) religious norms enhance ecological awareness by discouraging the use of harmful chemicals; and (4) religious leaders play a pivotal role in community mobilization and value transmission. This research highlights how religious institutions and ethical frameworks serve as localized mechanisms for promoting sustainable development in Vietnam’s multi-ethnic and transitional context.</p>2025-12-31T00:00:00+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1156Cách thể hiện quyền riêng tư và thông tin cá nhân trong video phóng sự điều tra trên báo Tuổi Trẻ Online giai đoạn 2019-20242026-04-21T15:53:47+07:00Tran Ngoc Huyen Le[email protected]Vy Phan Nhat Nguyen[email protected]Tam Nhat Nguyen[email protected]Tuyet Anh Luu[email protected]Thuy Thanh Pham[email protected]<p><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu này tập trung phân tích và đánh giá cách thể hiện quyền riêng tư và thông tin cá nhân trong video phóng sự điều tra trên báo </span><em><span style="font-weight: 400;">Tuổi Trẻ Online</span></em><span style="font-weight: 400;"> từ 2019 đến 2024. Nhóm nghiên cứu sử dụng lý thuyết “người gác cổng” và phương pháp phân tích nội dung kết hợp phỏng vấn sâu các nhà báo, luật sư nhằm làm rõ cách thức xử lý những thông tin thuộc phạm trù quyền riêng tư và thông tin cá nhân trong các video phóng sự điều tra của báo </span><em><span style="font-weight: 400;">Tuổi Trẻ Online</span></em><span style="font-weight: 400;">. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa trong việc đưa ra cái nhìn toàn cảnh về cách thức thể hiện quyền riêng tư và thông tin cá nhân trên báo </span><em><span style="font-weight: 400;">Tuổi Trẻ Online</span></em><span style="font-weight: 400;"> trong 5 năm gần đây, từ đó đánh giá được các khía cạnh chuẩn mực đạo đức của nhà báo khi làm video phóng sự điều tra, đóng góp vào việc xây dựng và cải thiện đạo đức báo chí.</span></p>2026-04-07T00:00:00+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1210The Con Ho Ecotourism Site, Tra Vinh: an Analysis of Policies and Local Community Expectations2026-04-21T15:54:08+07:00Do Thi Ngan Thanh[email protected]<p>Con Ho, a small islet located on the Co Chien River in Duc My commune, Cang Long district, Tra Vinh province, is a typical riverside settlement with a wetland ecosystem, agricultural community life, and indigenous culture. In recent years, Con Ho has emerged as a model for community ecotourism development in the Mekong Delta region. This paper focuses on analyzing the relationship between ecotourism development policies from the central to local levels and the expectations, adaptations, and agency of the local community. The study employs a qualitative methodology, combining the fieldwork with a focus on participant observation and in-depth interviews, to approach the tourism development policy as a negotiated process at the local level. Within this process, stakeholders collectively interpret, adjust, and reshape the policy in ways that align with practical realities. This approach views the policy not merely as a set of pre-determined administrative directives, but as a meaning-making process, understood as a post-structural discourse.The research findings show that the Con Ho community does not passively accept policies, but actively participates in adjusting and reshaping their content and implementation methods, based on cultural-social conditions and local livelihood needs. The study thus contributes to expanding the understanding of tourism development policy as a flexible, multi-dimensional process closely tied to community realities.</p>2026-01-06T00:00:00+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1205Interdisciplinary Approaches in Climate Change Studies from 2019 to 2024: A Bibliometric Analysis2026-04-21T15:54:32+07:00Nguyen Hoang My Lan[email protected]Trieu Thanh Le[email protected]<p>The study presents a bibliometric analysis of scholarly articles related to interdisciplinary research on climate change. Based on data of articles published between 2019 and 2024 from the Scopus database, the research employed the VOSviewer software to analyze and construct co-authorship and thematic networks. The study yields the following findings: First, the number of publications on climate change with an interdisciplinary approach has increased over time, with a strong concentration in countries such as the United States, the United Kingdom, Germany, China, Australia, Italy, Canada, France, the Netherlands, and Spain. Second, the climate change research during the 2019–2024 period has focused on key thematic areas, including: (1) the diverse impacts of climate change, ranging from effects on human and animal health to disruptions in ecosystems and biodiversity; (2) solutions to address climate change, with an emphasis on community-level engagement and the development of context-specific strategies; (3) the development and updating of mathematical models of climate and Earth systems as a basis for the current situation analysis and climate change impact forecasting; and (4) the psychological and mental health dimensions of human responses to climate change-related information. The results also indicate that interdisciplinary collaboration enhances the ability of researchers from diverse fields to deepen understanding, comprehensively identify causes, and propose appropriate solutions to cope with the rapidly changing climate and societal conditions. Each interdisciplinary research group has contributed to the formation of new knowledge in the field of climate change.</p>2025-12-31T00:00:00+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1193ĐẶC TRƯNG VỊ TỪ PHI TÁC CÁCH TRONG TIẾNG VIỆT VỚI CẤU TRÚC VỊ TỪ TÁC ĐỘNG GÂY CHUYỂN ĐỘNG2026-05-06T11:50:20+07:00TÂM THANH PHAN[email protected]<p>Đề tài này trình bày đặc trưng của vị từ phi tác cách trong tiếng Việt trong bản chất của vị từ và trong cấu trúc vị từ tác động gây chuyển động. Khác với vị từ phi tác cách trong nhiều ngôn ngữ phương Tây, vị từ phi tác cách trong tiếng Việt có thể đứng trước và cả đứng sau bị thể trong cấu trúc nội hàm của vị từ phi tác cách. Trong cấu trúc vị từ tác động gây chuyển động, hai cấu trúc bề mặt của vị từ phi tác cách cùng đóng vai trò thể hiện kết quả chuyển tác của vị từ tác động với phương thức chuyển động của bị thể khi nhận hành động chuyển tác. Việc khảo sát phát âm của 21 đối tượng nghiên cứu (7 nam và 14 nữ) độ tuổi từ 24 đến 50 và có giọng cả ba miền Nam, miền Trung và miền Bắc. Đề tài này ghi nhận tính nổi trội về cao độ, cường độ, trường độ và biên độ sóng âm của vị từ phi tác cách khi đứng trước bị thể so với khi đứng sau bị thể. Điều này phù hợp với một ngôn ngữ thiên về chủ đề của tiếng Việt khi người nói/viết muốn nhấn mạnh đến phương thức chuyển động, về không gian hoặc trạng thái của bị thể khi nhận hành động chuyển tác.</p> <p><strong>Từ khoá</strong>: vị từ phi tác cách, vị từ tác động gây chuyển động, vị từ chuyển động, kết cấu tác động gây chuyển động<strong><br> </strong></p> <p><strong>THE </strong><strong>CHARACTERISTIC OF VIETNAMESE UNACCUSATIVE VERBS IN THE MOTION-CAUSED CONSTRUCTIONS</strong></p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The article states the characteristics of Vietnamese unaccusative verbs, both in the nature of the verbs and in the Vietnamese motion-caused constructions. Different from the unaccusative verbs in Western languages, Vietnamese unaccusative verbs can stand in front of or behind the patient in the internal structure of the verbs. Occurring in Vietnamese motion-caused constructions, the two surface structures of Vietnamese unaccusative verbs express the resultative property of the motion-caused verbs with the motion manner when the patient gets the transitivity of the causative verbs. Surveying the pronouncing of 21 respondents (7 males and 14 females), aged from 24 to 50 with the sounds from the Southern, Central and Northern of the country, the study remarks the prominence of pitch, intensity, length, and soundwave of the unaccusative verbs when standing in front of the patient, comparing to those when standing behind the patient. This finding is in accordance with the nature of Vietnamese, a language focusing on the topic, when the senders want to emphasize the motion manner, space and state, of the patient when getting the transitivity of the motion-caused verbs.</p> <p><strong>Keywords: unaccusative verbs, motion-caused verbs, motion verbs, causative constructions</strong></p>2026-05-06T11:50:20+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1248Xác định “ranh giới” giữa việc bảo tồn qua gìn giữ bản sắc và việc phát huy qua trình diễn các giá trị văn hóa tộc người Raglai ở tỉnh Khánh Hòa2026-05-07T22:23:44+07:00Huy Mai Nguyen[email protected]Lan Thị Phương Ngô[email protected]<p><span dir="auto" style="vertical-align: inherit;"><span dir="auto" style="vertical-align: inherit;"><span dir="auto" style="vertical-align: inherit;"><span dir="auto" style="vertical-align: inherit;">Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc phát huy giá trị văn hóa hóa trong phát triển du lịch ngày càng được coi là một giải pháp kép: vừa góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa bảo tồn tồn tại và khẳng định bản sắc sắc sắc dân tộc. Tuy nhiên, một trong những công thức nổi bật được xác định là “ranh giới” giữa công việc giữ nguyên bản và trình diễn văn hóa trong môi trường du lịch. Bài nghiên cứu này, thông qua khảo sát tính toán tại xã Bác Ái Tây, Tỉnh Khánh Hòa (từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2025) với phương pháp khảo sát tham dự và thẩm vấn sâu, tiếp cận văn hóa Raglai như một sản phẩm sống, được duy trì và đồng tạo liên tục trong đời sống cộng đồng. Kết quả cho thấy văn hóa hóa hóa không tồn tại như một thực tế có thể bất biến, mà được sản xuất tái sinh và lưu truyền thông qua các thực hành xã hội đa dạng. Từ góc độ lý thuyết, nghiên cứu mẹo mở từ quan niệm về biểu diễn văn hóa của Clifford Geertz, theo đó diễn văn hóa không chỉ là sự tái sinh mà còn là hình thức biểu hiện đạt được như một “văn bản văn hóa cuộc sống” (văn bản văn hóa). Ở đó, văn bản được nhận dạng như một hệ thống biểu tượng dành cho thiết kế, thông tin được đưa về đồng thời cố định kết nối và bản sắc nội tại, vừa tạo điều kiện giao tiếp tiếp theo và chia sẻ với thế giới bên ngoài. Trong không gian du lịch, những hình thức trình diễn không đơn thuần là mặt vật tái sinh, mà có thể được hiểu là một phương thức thực hành di sản, vừa bảo tồn phù hợp với bối cảnh hiện đại. Phân tích cho thấy “ranh giới” giữa bản tinh và trình diễn không mang tính Rẽ rỉi, là một lĩnh vực linh hoạt: bản sắc được giữ lại trong các yếu tố quý giá ngọc quý, trong giác cảm cơ tính của cộng đồng, đồng thời được mở rộng và tái tạo thành các biểu thức biểu hiện cảm giác mới phù hợp với thị giác du khách và điều kiện kinh tế – xã hội. Chính sự vận hành và sáng tạo không ngừng này đã trở thành cơ chế duy trì sự bền vững của văn hóa Raglai. Do đó, thay vì đặt ra sự lựa chọn tuyệt đối giữa bảo tồn tồn tại hay phát huy, cần nhận diện và nuôi dưỡng khu vực này, đảm bảo cộng đồng giao tiếp tiếp giữ vai trò chủ thể, đồng thời tận dụng du lịch như một kênh lan tỏa và khẳng định giá trị văn hóa.</span></span></span></span></p>2026-05-07T22:23:44+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1159Phát triển sản phẩm du lịch ảo tại thành phố Hồ Chí Minh: Khảo sát ý định sử dụng và các yếu tố ảnh hưởng từ góc nhìn du khách trẻ2026-05-07T22:24:14+07:00Nguyệt Thị Thúy Phạm[email protected]<p>Trong bối cảnh du lịch số đang ngày càng phát triển, du lịch ảo nổi lên như một hình thức trải nghiệm thay thế hoặc bổ sung cho du lịch truyền thống, đặc biệt phù hợp với thế hệ du khách trẻ yêu thích công nghệ và trải nghiệm linh hoạt. Nghiên cứu này tập trung khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng sản phẩm du lịch ảo tại thành phố Hồ Chí Minh, với đối tượng là du khách trẻ. Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa Lý thuyết Hành vi Dự định (TPB) và Lý thuyết Uses and Gratifications (UGT), nhằm kết hợp giữa yếu tố thái độ – kiểm soát hành vi và động cơ nội tại khi tiếp cận sản phẩm.</p> <p>Dữ liệu được thu thập từ 253 người trả lời, thông qua bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức. Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha cho thấy các thang đo đạt độ tin cậy cao. Phân tích hồi quy tuyến tính bội cho thấy thái độ tích cực (β = 0.48) là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến ý định sử dụng, tiếp theo là kiểm soát hành vi, chuẩn mực xã hội và động cơ nội tại theo UGT. Bên cạnh đó, giới tính và độ tuổi cũng tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong hành vi tiếp cận du lịch ảo.</p> <p>Từ các kết quả này, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị thực tiễn trong việc thiết kế sản phẩm, truyền thông phù hợp với động cơ tiêu dùng và gợi ý chính sách nhằm thúc đẩy phát triển hệ sinh thái du lịch ảo tại thành phố Hồ Chí Minh như một hợp phần của du lịch thông minh trong thời đại số.</p>2026-05-07T22:24:14+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1102The diasporic identity in Yan Geling’s Works (A Study on The Lodger and Here is your life)2026-04-16T14:02:54+07:00Hoan Viet Ngo[email protected]<p>Nghiêm Ca Linh (严歌苓) là một trong những nhà văn di cư tiêu biểu của Trung Quốc đương đại, với nhiều tác phẩm khắc họa sâu sắc thân phận con người trong bối cảnh di cư và những biến động lịch sử. Hai tiểu thuyết <em>Người ở trọ</em> (《寄居者》)và <em>Thiếu nữ Tiểu Ngư</em> (《少女小渔》)phản ánh cuộc sống của những người Trung Quốc xa xứ, khi họ rơi vào trạng thái lơ lửng giữa hai thế giới - không còn hoàn toàn thuộc về quê hương nhưng cũng chưa thể hòa nhập với xã hội mới, tạo nên những xung đột nội tâm phức tạp. Bài viết tập trung phân tích vấn đề căn tính văn hóa và xã hội của nhân vật di dân trong hai tác phẩm này, đặc biệt là sự giằng co giữa căn tính cá nhân và môi trường tiếp nhận. Để giải quyết vấn đề này, bài viết áp dụng phương pháp phân tích văn học kết hợp với lý thuyết căn tính của Stuart Hall, Homi Bhabha và Paul Ricoeur, nhằm làm rõ cách nhân vật thương lượng giữa truyền thống và hiện đại, giữa căn tính cũ và những yêu cầu của xã hội mới. Trọng tâm nghiên cứu xoay quanh khái niệm “lai tạp” (<em>hybridity</em>) và “không gian thứ ba” (<em>third space</em>), giúp lý giải trạng thái bất định của nhân vật và những lựa chọn của họ trong quá trình tái định hình căn tính. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thông qua lối kể chuyện đan xen giữa quá khứ và hiện tại, Nghiêm Ca Linh không chỉ phản ánh những khó khăn của người nhập cư mà còn đặt ra câu hỏi về sự hòa nhập, khả năng thích nghi và sự tái tạo căn tính trong môi trường đa văn hóa. Bên cạnh đó, bài viết cũng gợi mở về mối liên hệ giữa văn học di dân và vấn đề căn tính trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời khuyến khích cách tiếp cận linh hoạt hơn trong nghiên cứu về căn tính văn hóa, khi con người ngày càng xê dịch và tái cấu trúc căn tính của mình trong thế giới đương đại phức tạp hơn.</p>2026-04-16T00:00:00+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1136The process of administrative units establishment and territorial organization in Hà Tiên under the reigns of emperors Gia Long and Minh Mạng (1802-1841)2026-04-16T15:02:21+07:00Nguyet Thi Anh Nguyen[email protected]<p>This article examines the process of establishing and organizing territorial-administrative management in Hà Tiên under the reigns of Emperor Gia Long and Emperor Minh Mạng from a historical and geopolitical perspective. Situated at a strategic position between the mainland and the archipelago, bordering Champa (Cambodia) and Siam (Thailand), Hà Tiên served as a crucial border area in the Nguyễn dynasty’s defense strategy and control over the southwestern frontier. Through analyzing administrative reforms, territorial division, and population management and organization, this study reveals how the Nguyễn court gradually integrated Hà Tiên - once a semi-autonomous territory under the Mạc family - into the centralized state model. Notably, the implementation of geographical surveys, maritime and island control, and the establishment of administrative units on the islands reflect a modern territorial mindset and the dynasty’s capacity to govern border spaces amid the regional power competition between Vietnam, Siam, and Champa. This research contributes to clarifying Hà Tiên’s role as a distinctive administrative-military unit that combined border defense, economic-commercial development, and territorial sovereignty assertion. Accordingly, the article offers an approach to better understanding the Nguyễn state’s governance mindset and border management policies - a vital foundation for recognizing the historical control and sovereignty establishment of Vietnam’s present-day border and maritime zones.</p>2026-04-08T00:00:00+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1105Phương thức biểu thị mức độ trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên quan điểm của lý thuyết đánh giá2026-04-21T15:52:37+07:00Huong Thi Thu Ngo[email protected]<p>Bài viết này tìm hiểu phương thức biểu thị mức độ trong Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bài viết nhằm góp phần nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn phổ thông nói chung cũng như tìm hiểu cách thức sử dụng ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng. Khung lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu này là lý thuyết Đánh giá và phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp thống kê mô tả. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ yếu sử dụng phương thức gây tác động. Trong phương thức này, Người sử dụng phương tiện định lượng nhiều hơn phương tiện tăng cường. Trong phương tiện định lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng các từ biểu thị số lượng và các từ biểu thị giới hạn (thời gian, không gian) một cách rất rõ ràng. Bên cạnh việc sử dụng phương thức gây tác động, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sử dụng phương thức tạo trọng điểm. Trong phương thức này, Người hoàn toàn sử dụng phương tiện nhấn mạnh với các từ ngữ chỉ mức độ, những cặp quan hệ từ có ý nghĩa khẳng định cao mà không sử dụng phương tiện làm mờ. Điều này cho thấy Người muốn truyền tải đến nhân dân và bạn bè quốc tế thông điệp quyết tâm đấu tranh giành độc lập và tự do của nhân dân Việt Nam cũng như khẳng định chắc chắn nền độc lập và tự do của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.</p>2026-04-17T00:00:00+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1134Giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên tại các cơ sở giáo dục đại học: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam2026-04-21T15:54:58+07:00Lan Thi Phuong Ngo[email protected]<p>Bài viết phân tích kinh nghiệm giáo dục chính trị, tư tưởng (CTTT) từ các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và các nước Âu-Mỹ, qua đó rút ra bài học cho Việt Nam. Các quốc gia này, dù khác biệt về thể chế và văn hóa, đều chú trọng giáo dục CTTT nhằm xây dựng thế hệ trẻ có tư duy chính trị vững vàng và ý thức trách nhiệm công dân. Trung Quốc nhấn mạnh truyền thụ lý tưởng cách mạng và giá trị xã hội chủ nghĩa; Nhật Bản và Thái Lan tập trung khai thác giá trị văn hóa, lịch sử; trong khi các nước Âu-Mỹ đề cao tư duy khai phóng và trách nhiệm cá nhân. Những kinh nghiệm quốc tế không chỉ cung cấp thêm góc nhìn mới mà còn gợi mở những kinh nghiệm trong việc nâng cao chất lượng giáo dục CTTT tại các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam hiện nay, từ đó góp phần xây dựng thế hệ trẻ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy đổi mới sáng tạo và năng lực hội nhập toàn cầu, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.</p>2026-04-09T00:00:00+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1208A Sociological Approach to the Francophone Journals: A Case Study of the Bulletin de la Société d’enseignement mutuel du Tonkin2026-04-21T15:55:16+07:00Cotika Maria Sity[email protected]Anh Ngoc Thi Vo[email protected]Viet Hoang Nguyen[email protected]<p>This article aims to propose a sociological approach to the Francophone journals published in Vietnam during the colonial period, by drawing on Pierre Bourdieu's theoretical framework, while also incorporating insights from cultural transfer methodology and postcolonial studies. We will focus on the <em>Bulletin de la Société d’enseignement mutuel du Tonkin</em> (Trí Tri Bulletin)—the official organ of the Trí Tri Association founded in 1892—as a case study to analyze how this periodical participated in the construction of a hybrid intellectual field, while also undergoing tensions between the colonial hegemonic power and the emerging assertion of a Vietnamese subjectivity during the colonial period. The article focuses on the practice of translation within the <em>Bulletin de la Société d’enseignement mutuel du Tonkin</em>, including the translation of French works into Vietnamese and vice versa, as an act of appropriating and accumulating the symbolic capital, as well as a key strategy for knowledge production and recognition in the inequitable colonial context. From this, it can be seen that colonial Francophone journals were complex intermediate spaces where interaction, negotiation, competition, and symbolic resistance took place, helping to shape the identity of modern Vietnamese intellectuals.</p>2026-04-16T00:00:00+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1117Re-reading Nguyễn Đình Thi’s Rừng Trúc (Bamboo Forest): A new historicist perspective2026-05-05T09:41:34+07:00Phuong Ngoc Le[email protected]<p>Nguyễn Đình Thi (1924-2003) was one of the most talented artists in Vietnamese literature of the 20th century. Among them, the literary script <em>Bamboo Forest</em> was considered one of the works written on historical topics that created a unique mark by Nguyễn Đình Thi. Up to now, this work still has interesting aspects and deserves to be discussed further. Drawing from the historical figure of Lý Chiêu Hoàng, the last empress of the Lý Dynasty, and from the modern cultural mindset of the 20th century, Nguyễn Đình Thi crafted a portrayal of Lý Chiêu Hoàng marked by the intellectual beauty and noble character. This article approaches the <em>Bamboo Forest</em> literary script from a new historicist perspective to analyze the close relationship between the political power structure and the marriage institution of feudal system. Marriage was a way to consolidate dynastic power. Within this context, the characters have had a process of self-fashioning and self-cancellation as the means of obeying and resisting the power structure. The article proves that Nguyễn Đình Thi's <em>Bamboo Forest</em> was a text that continued to explain people's choices and behavior when faced of power, and it also explains the relationship between individuals and kinship/community. By connecting the theme of women with the issue of national identity, Nguyễn Đình Thi affirmed the stature of women and demonstrated a change in the concept of women's position in the course of Vietnamese history.</p>2026-05-05T00:00:00+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1145Tuổi Hoa Publishing House as a institution in the Southern Vietnamese literary field (1954-1975)2026-05-05T11:00:56+07:00Huong Hoang Lan Pham[email protected]<p>Officially operating from 1962 to 1975, Tuổi Hoa Publishing House became an institution in the Southern Vietnamese literary field from 1954 to 1975. Through the lens of paraliterary institutions, this article analyzes the historical context, social conditions, and cultural factors that influenced the establishment and development of Tuổi Hoa. The study also examines how the publishing house built the strategies and organized resources to sustain its two flagship publications: the biweekly Tuổi Hoa magazine and the Tuổi Hoa book collection, which boasted a greater number of publications than other children's publishing houses. Notably, the circulation figures for these two publications were remarkably high, eclipsing those of most contemporary children's publishers, even in times of profound political and social instability. With consistently high-quality, diverse, and engaging content, Tuổi Hoa gained credibility within the book distribution system, receiving long-term orders from bookstores and fostering a devoted readership that actively engaged with, supported, and contributed creative works. Beyond providing knowledge and nurturing reading habits among young readers, the publishing house also cultivated a unique literary space that nurtured and encouraged emerging writers. Through its processes of selecting, editing, and introducing publications, Tuổi Hoa publishing house became a crucial link in shaping literary practices and simultaneously established a close relationship between authors and the public. In the period from 1954 to 1975, Tuổi Hoa held a unique and pivotal role. Beyond its established reputation and solid standing within the publishing sector, it acted as a significant catalyst in shaping a dynamic, diverse, and burgeoning literary movement in Southern Vietnam.</p>2026-05-05T00:00:00+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1186The Relations between Funan Kingdom and the Oriental Countries2026-05-07T22:23:59+07:00Le Thi Sinh Hien[email protected]<p>Funan was an ancient kingdom in the Indochinese Peninsula, formed and developed from the 1<sup>st</sup> to the 7<sup>th</sup> century CE and lasted until the 12<sup>th</sup> century. Funan was situated on the East-West maritime trade route with the bustling port of Oc Eo, one of the most important of its time. The characteristics of Funan reflected Indian cultural and religious elements, especially sculpture, architecture, Buddhist, and Hindu thoughts. Funan is known as the first Indianized state in Southeast Asia. However, ancient Chinese texts from the Southern Qi Dynasty, Liang Dynasty, Jin Dynasty, to the New Tang Dynasty all show the relationship between Funan and the Chinese dynasties. Notably, the peak development period of Funan, reflected in the Oc Eo culture during the 4th - 6th centuries, when referenced to India, marks the golden age of the Gupta Dynasty (320 - 550 CE). According to Chinese records, by 550, the Gupta Dynasty declined, around the same time that Funan was annexed by Chenla. Was this a coincidence, or was there a close relationship between Gupta and Funan? This article relies on archaeological and linguistic sources to point out the relationship between Funan and India (during the Gupta period) and explains why Funan chose the Indian state model, while with China, Funan only maintained diplomatic and trade relations.</p> <p> </p>2026-05-07T22:23:59+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1110Phật học đường Lưỡng Xuyên trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam kỳ thời thuộc địa (1935-1943)2026-05-07T22:24:39+07:00Sinh Thị Ninh[email protected]Thach Van Vo[email protected]<p>Bài viết phân tích chi tiết quá trình thành lập, tổ chức và hoạt động của Phật học đường Lưỡng Xuyên, một ngôi trường tiêu biểu trong phong trào chấn hưng Phật giáo Nam Kỳ thời thuộc địa. Với việc khai thác các tư liệu gốc như tạp chí Duy Tâm, Phật học, Pháp Âm, bài viết tái hiện vai trò của Phật học đường trong việc duy trì văn hóa dân tộc, phát huy tinh thần Phật giáo và cải cách giáo dục để thích ứng với bối cảnh xã hội thuộc địa. Sử dụng phương pháp lịch sử truyền thống kết hợp với phân tích tài liệu, bài viết làm rõ những nỗ lực của Hòa thượng Khánh Hòa và các cao tăng trong việc đào tạo nhân tài Phật giáo, tăng cường tính đoàn kết giữa tăng sĩ và cư sĩ. Bài viết tập trung đánh giá khách quan các thành tựu và hạn chế trong hoạt động giáo dục của Phật học đường Lưỡng Xuyên, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của ngôi trường này trong phong trào chấn hưng Phật giáo tại Nam Kỳ. Đây là một nỗ lực tiêu biểu trong việc tạo nền tảng giáo dục Phật giáo hiện đại, góp phần định hình sự phát triển của Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn sau.</p>2026-05-07T22:24:39+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1173Tiếp cận tiểu thuyết Tình yêu như băng sơn của Lệ Hằng từ góc nhìn hiện sinh2026-05-07T23:00:34+07:00Châu Đào Minh Nguyễn[email protected]<p>Chủ nghĩa hiện sinh là một hiện tượng triết học khởi sinh và phát triển mạnh mẽ ở phương Tây vào thế kỷ XX. Với những phạm trù cốt lõi đầy nhân văn, nhân bản, chủ nghĩa hiện sinh đã lan rộng ra nhiều vùng lãnh thổ và có sức ảnh hưởng đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội - văn hóa ở đô thị miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975, vốn đang chịu ảnh hưởng bởi cuộc chiến tranh leo thang và những bất ổn trong đời sống vật chất, tinh thần của con người. Nói riêng trong địa hạt văn chương, triết học hiện sinh đã được các văn nghệ sĩ tiếp nhận và chuyển hóa vào trong các tác phẩm để phản tỉnh và luận bàn về những vấn đề hiện thực đương thời. Nhiều tác giả đã tìm thấy trong triết học hiện sinh nguồn cảm hứng bất tận về những ý tưởng như cuộc đời là một chuỗi phi lý và hỗn loạn, tính chất cô đơn và hư vô của tồn tại người, khát vọng tự do định hình bản dạng cá nhân, những vấn đề nhân sinh và bản thể khác. Bài viết này là một thể nghiệm vận dụng một số phạm trù cơ bản của triết học hiện sinh vào đọc tiểu thuyết <em>Tình yêu như băng sơn</em> của Lệ Hằng. Từ đây, chúng tôi kỳ vọng có thể đề xuất một cách tiếp cận tác phẩm ở một chiều kích khác, đưa ra những diễn giải về cách mà nhà văn tái hiện và suy tư về sự hiện hữu của con người trong mối quan hệ với tha nhân và với đời sống trần thế.</p>2026-05-07T23:00:34+07:00##submission.copyrightStatement##https://ssh.vnuhcmjournal.com.vn/index.php/ssh/article/view/1096Chiến lược phát triển công nghệ bán dẫn của Hàn Quốc dưới góc nhìn Tự chủ chiến lược từ năm 2019 đến nay2026-05-07T22:25:07+07:00Ngoc Thi Hong Ngo[email protected]<p>Chính phủ Hàn Quốc, dưới thời Tổng thống Moon Jae-in (nhiệm kỳ 05/2017-05/2022) và tiếp nối là Tổng thống Yoon Suk-yeol (nhiệm kỳ tính đến tháng 10/2024), có tầm nhìn và chủ trương khá nhất quán trong việc nâng cao năng tự chủ bán dẫn quốc gia, đưa Hàn Quốc trở thành siêu cường bán dẫn toàn cầu, và lọt vào nhóm ba cường quốc bán dẫn trí tuệ nhân tạo (AI) toàn cầu trước năm 2030. Các chiến lược, kế hoạch cụ thể liên tiếp được công bố với hàng loạt các siêu dự án có mức đầu tư và quy mô chưa từng có tiền lệ trong lịch sử phát triển các ngành công nghiệp của quốc gia này kể từ năm 2019. Song song với đó, Hàn Quốc không phải là quốc gia duy nhất thể hiện rõ nét những nỗ lực và tham vọng trong làn sóng nâng cao năng lực tự chủvề bán dẫn. Đây được xem là động thái ứng phó cũng như xu thế phát triển chung của các nước như Hàn Quốc, đặc biệt trong bối cảnh áp lực cạnh tranh công nghệ toàn cầu, dẫn dắt bởi hai cường quốc công nghệ là Mỹ-Trung cùng với xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng bán dẫn toàn cầu. Với mục tiêu làm rõ các yếu tố nền tảng, động lực và xu hướng tự chủ trong chiến lược phát triển công nghệ bán dẫn của Hàn Quốc, bài viết sẽ tiếp cận phân tích dưới góc độ ‘<em>tự chủ chiến lược</em>’ và ‘<em>chủ quyền công nghệ</em>’. Bài viết sẽ tiếp tục cung cấp một bức tranh tổng quan về các vấn đề thực tiễn có tính thúc đẩy cũng như thách thức xu thế tự chủ chiến lược công nghệ bán dẫn nói chung và ở Hàn Quốc nói riêng. Những nghiên cứu trên sẽ là nền tảng cho việc đánh giá tầm nhìn chiến lược, mục tiêu quốc gia, và năng lực nội tại trong nỗ lực theo đuổi tham vọng tự chủ chiến lược bán dẫn ở Hàn Quốc trong hai nhiệm kỳ của Tổng thống Moon và Tổng thống Yoon từ năm 2019 đến nay.</p>2026-05-07T22:25:07+07:00##submission.copyrightStatement##