Reviews - Science Sciences Open Access Logo

The overview of the reality and the factors affecting university dropouts

Liên Thị Mai Lê 1, *
Thư Thị Anh Trần 1
Tien Anh Tran 1
  1. University of Social Sciences and Humanities, VNU-HCM
Correspondence to: Liên Thị Mai Lê, University of Social Sciences and Humanities, VNU-HCM. Email: [email protected].
Volume & Issue: Vol. 8 No. 3 (2024) | Page No.: 2683-2706 | DOI: 10.32508/stdjssh.v8i3.1033
Published: 2024-09-30

Online metrics


Statistics from the website

  • Abstract Views: 1072
  • Galley Views: 504

Statistics from Dimensions

This article is published with open access by Viet Nam National University, Ho Chi Minh City, Viet Nam. This article is distributed under the terms of the Creative Commons Attribution License (CC-BY 4.0) which permits any use, distribution, and reproduction in any medium, provided the original author(s) and the source are credited. 

Abstract

University dropout is a process in which students fall further and further behind their peers and gradually lose all connections with the education system. This article synthesizes 35 previous studies to give a general picture of the problem of university dropouts worldwide and in Vietnam. The rate of university dropouts fluctuates around 20% of the course or of the university. This phenomenon is particularly prevalent among male students and first-year ones. The dropout rate tends to decrease in subsequent academic years. The dropout rate is related to curriculum and students’ grade point of average in the first academic year. There are many groups of factors that influence dropping out of university: firstly, the groups of personal factors including physical and mental health, learning motivation and goals, ability to fit in at university, learning ability, academic outcomes, school discipline, and time managing ability; secondly, the group of factors in regard to educational institutions, such as lack of career guidance in streams, poor-quality teachers, less innovative curriculum, lack of social support at school, tuition fees pressure, and lack of coordination in student management; thirdly, the group of factors concerning the family, parents' level of education and expectations, and family finances.

GIỚI THIỆU

Bỏ học là hành vi thuộc mức độ cao nhất của “Thất bại học đường” (school failure). Đó là một quá trình sinh viên (SV) trượt ngày càng xa phía sau các bạn cùng lứa và dần dần không còn kết nối với hệ thống giáo dục 1. Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO), thất bại trong quá trình học tập được xác định bao gồm ba chỉ báo: (1) lưu ban, (2) bỏ học sớm, (3) suy giảm chất lượng giáo dục của người học2. Có nhiều khái niệm được sử dụng để gọi tên hiện tượng SV không tiếp tục một chương trình học đại học như “bỏ học” (dropout), “sinh viên bỏ học” (student departure), hoặc “sinh viên chưa hoàn thành chương trình học” (non-completion or non-continuing students). Có hai hình thức SV rời bỏ chương trình giáo dục đại học trước khi đạt bằng cấp được phân biệt, đó là “sự rời bỏ mang tính tổ chức”, với nghĩa là SV chuyển từ trường này sang trường khác, và “sự rời bỏ mang tính hệ thống”, tức là SV rời khỏi hệ thống giáo dục hoàn toàn 1, 2. Trong bài tổng quan này, khái niệm “bỏ học” sẽ được dùng một cách thống nhất với hàm nghĩa là khi một SV chính thức hoặc không chính thức rời khỏi trường học ngay cả khi họ chưa hoàn thành chương trình đào tạo của mình mà không phải do chuyển trường.

Hành vi bỏ học làm lãng phí thời gian, hao tổn tài chính cho SV và gia đình. Đối với nhà trường và xã hội, hành vi này cũng gây tác động tiêu cực đối với việc phát triển nguồn nhân lực cho thị trường lao động trong tương lai. Các nghiên cứu trước đây tìm hiểu về việc bỏ học ở các cấp học phổ thông nhiều hơn so với bỏ học ở sinh viên đại học. Hiểu biết về thực trạng bỏ học của sinh viên và nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến bỏ học của sinh viên là việc làm cần thiết để có các giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu tình trạng bỏ học ở sinh viên trong các trường đại học. Bài tổng quan này tổng hợp các nghiên cứu trước đây nhằm cung cấp bức tranh khái quát về vấn đề bỏ học của sinh viên đại học thông qua việc trả lời hai câu hỏi chính: (1) Thực trạng bỏ học của sinh viên trên thế giới và tại Việt Nam là như thế nào? (2) Các yếu tố ảnh hưởng đến bỏ học của sinh viên là gì?.

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ

Phương pháp nghiên cứu tổng quan tài liệu được sử dụng thực hiện tổng quan vấn đề nghiên cứu. Các cơ sở dữ liệu đã sử dụng bao gồm: PsycInfo, PudMed, ScienceDirect, Google Scholar. Các từ khóa được sử dụng bao gồm: bỏ học, nguy cơ bỏ học, yếu tố ảnh hưởng, nguyên nhân, sinh viên đại học, thất bại học đường. Sau khi loại trừ các nghiên cứu đề cập đến bỏ học ở học sinh các cấp phổ thông, chúng tôi tìm được 36 nghiên cứu phù hợp để thực hiện tổng quan vấn đề về thực trạng bỏ học và các yếu tố ảnh hưởng đến bỏ học ở sinh viên trên thế giới và tại Việt Nam.

Tổng quan về thực trạng bỏ học của sinh viên trên thế giới

Table 1 trình bày tóm tắt 21 nghiên cứu về thực trạng bỏ học và các yếu tố tác động đến bỏ học của sinh viên trên thế giới. Trong số đó, nghiên cứu định lượng vẫn là chủ yếu (15/21 nghiên cứu). Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu định tính hoặc nghiên cứu hỗn hợp được thực hiện để làm rõ nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến ý định hoặc quyết định bỏ học của SV. Các kết quả cho thấy tỷ lệ bỏ học, nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng từ các nghiên cứu trước đây khá đa dạng và mang tính bối cảnh đặc trưng tùy vào trường đại học. Điều này cho thấy rằng không thể tham khảo một mô hình giải pháp duy nhất phù hợp để giải quyết vấn đề bỏ học ở SV3.

Tỷ lệ bỏ học ở sinh viên trên thế giới

Tỷ lệ bỏ học của SV các trường trên thế giới phản ánh trong các nghiên cứu khác nhau cho thấy độ biến thiên cao và khá đa dạng. Kết quả nghiên cứu trên bộ mẫu là 75.830 SV theo học ở Trường Đại học Grannada, Tây Ban Nha, từ năm 1992 đến trước 2009, cho thấy tỷ lệ bỏ học được ghi nhận là 49,6%4. Trong khi đó, ở một nghiên cứu khác của Ý, thực hiện tại Khoa Kinh tế và Kinh Doanh của Trường Đại học Sapienza, trên 9.725 SV, tỷ lệ bỏ học là 15,61% 3. Ở Đức, dữ liệu ghi nhận từ năm 1999 đến 2008 cho thấy tỷ lệ bỏ học dao động trong khoảng 21% đến 25%, trong đó, tỷ lệ bỏ học của SV năm nhất đạt đến 30% 5. Nghiên cứu tại một trường Đại học thuộc Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy tỷ lệ thất bại trong học thuật (bị đình chỉ học) ở SV năm nhất là rất đáng chú ý (19%), tỷ lệ này có xu hướng giảm bắt đầu từ năm học thứ hai (khoảng 10%) và đạt khoảng 6% vào năm học thứ ba6. Nghiên cứu ở Nauy cho thấy rằng có đến 11,2% SV bỏ học ngay học kỳ đầu tiên, và tỷ lệ bỏ học sau 5 năm là 17,9%7. Một nghiên cứu ở Brazil trên bộ mẫu 5.288 SV ghi nhận tỷ lệ bỏ học chung là 43,4%, trong đó nam sinh có tỷ lệ bỏ học cao hơn nữ sinh 8.

Ở Thái Lan, trong một nghiên cứu công bố năm 2008 được tiến hành ở Trường Đại học Prince of Songkla, cơ sở Pattani, trên cơ sở dữ liệu 11.408 SV từ năm 1999 đến 2006, kết quả cho thấy tỷ lệ bỏ học chung là 5,3% (trong đó nam sinh có tỷ lệ bỏ học cao hơn nữ sinh)9. Sau đó, cũng ở trường này, nghiên cứu của Tentshol và cộng sự (cs),10 trên bộ dữ liệu 10.377 SV trong 3 năm (từ 2007 đến 2011) cho thấy tỷ lệ bỏ học chung tăng lên, đạt 23,9%. Nghiên cứu này cũng chỉ ra một số xu hướng đáng chú ý, cụ thể tỷ lệ bỏ học cao hơn được ghi nhận ở các nhóm như nam giới, học sinh có điểm trung bình học kỳ đầu tiên dưới 2.00. Năm đầu tiên cũng ghi nhận tỷ lệ bỏ học cao với 56,1%, sau đó có xu hướng giảm dần10.

Các nghiên cứu cũng đã tìm thấy sự khác biệt trong tỷ lệ bỏ học giữa các ngành 4, 6, 10, 11. Riêng đối với nhóm ngành khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu của Harvey and Luckman tiến hành ở Đại học La Trobe (Australia) ghi nhận có đến 30,5% trong tổng số 1.124 sinh viên bỏ học, chủ yếu ở năm 1 bước qua năm 2 12. Đồng nhận định này, nghiên cứu của Mestan cũng phản ánh rằng tỷ lệ cao sinh viên các ngành khoa học xã hội và nhân văn bỏ học hơn chuyên ngành khác, khoảng 52%11.

Tóm lại, các nghiên cứu ở nhiều trường trên thế giới ghi nhận tỷ lệ cao SV bỏ học giữa chừng, bình quân trên 20% sinh viên toàn khóa hoặc trường. Hiện tượng này được ghi nhận đặc biệt phổ biến ở nhóm SV nam và SV theo học năm đầu tiên. Tình trạng bỏ học có xu hướng giảm dần ở các năm học tiếp theo. Ở một số trường, đối với các nghiên cứu lặp lại trong những năm tiếp theo như nghiên cứu từ Trường Đại học Prince of Songkla (Thái Lan), hoặc Trường Đại học La Trobe (Australia), dữ liệu cho thấy có xu hướng gia tăng tình trạng bỏ học trong SV, SV khối ngành khoa học xã hội và nhân văn có tỷ lệ bỏ học cao hơn so với khối ngành khác, khoảng trên 30% (Table 1).

Nguyên nhân bỏ học ở sinh viên trên thế giới

Có nhiều nguyên nhân khiến SV bỏ học đã được ghi nhận trong các nghiên cứu trước đây. Ở mỗi nghiên cứu, một số các nguyên nhân chính được nhận diện. Những nhóm nguyên nhân này không xuất hiện đơn lẻ mà đan xen nhau trong các kết quả nghiên cứu đã được công bố (Table 1).

Tìm hiểu về nguyên nhân bị đình chỉ học, nghiên cứu của MiHai6 đã liệt kê một số nguyên nhân cụ thể của SV Khoa Điều khiển học, Thống kê và Kinh tế của Trường Đại học Bucharest (Thổ Nhĩ Kỳ). Những nguyên nhân này được hệ thống gồm các yếu tố bên trong mang tính cá nhân, ví dụ như sự thiếu trưởng thành và kỷ luật học tập, các vấn đề về tình cảm và tâm lý của cá nhân; hoặc yếu tố bên ngoài như hoàn cảnh gia đình, áp lực xã hội, áp lực kinh tế. Ngoài ra, còn có những yếu tố khác như độ khó của môn học; yêu cầu cao từ giảng viên; các vấn đề về nghiệp vụ sư phạm và truyền đạt6. Nghiên cứu của Smith and Naylor phát hiện ra rằng nguyên nhân chính của việc bỏ học là do mức độ chuẩn bị sẵn sàng cho học tập trước đó và sự hòa nhập xã hội của SV ở trường đại học. Điều này có liên quan đến kết quả học tập ở giai đoạn học phổ thông và trung học cơ sở. Kết quả học tập ở bậc trung học phổ thông và cơ sở cũng được tìm thấy có mối tương quan với tình trạng bỏ học của SV13. Một nghiên cứu ở Zambia phát hiện rằng quyết định bỏ học của SV có liên quan đến các hoạt động tại nơi làm việc, đặc biệt là yêu cầu công việc nặng nề khiến cho SV khó có thể theo đuổi việc học14.

Một số nghiên cứu cho rằng sự nhớ nhà và trầm cảm có thể là nguyên nhân của hành vi bỏ học đại học15, 16, 17, 18, 19. Theo đó, nỗi nhớ nhà được định nghĩa là “trạng thái đau khổ được đặc trưng bởi những khó khăn trong việc điều chỉnh và sự khao khát mãnh liệt về mái ấm gia đình và những mong muốn được về nhà sau khi rời nhà”. Nhớ nhà được cho là có ảnh hưởng đến quá trình học tập, gây ra sự kém tập trung, nhận thức kém, trễ nải trong hoàn thành bài tập và chất lượng học tập giảm sút20. Nghiên cứu gần đây của Boddy tìm thấy rằng tất cả SV năm nhất trong mẫu nghiên cứu đều từng cân nhắc ý định bỏ học do cô đơn và nhớ nhà15. Cũng trong báo cáo này, dựa trên các dữ liệu định tính, tác giả cho thấy các vấn đề liên quan đến khía cạnh tâm lý xã hội phát sinh trong môi trường học đường cần được quan tâm hơn vấn đề tài chính. Do vậy, để giữ chân SV, nhà trường cần cung ứng các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ xã hội dành cho người học, đặc biệt khi họ mới nhập học. Ngoài sự hòa nhập xã hội trong môi trường học đường đóng vai trò quan trọng trong quyết định bỏ học, Lockhart21 còn nhấn mạnh đến yếu tố sự tự tin trong học tập của cá nhân.

Một nghiên cứu khác ở Nam Phi cho thấy trong số SV bỏ học ở 7 trường đại học trong địa bàn nghiên cứu, trung bình 70% đến từ các gia đình có thu nhập thấp, với 40% SV bỏ học trong năm đầu tiên22. Trong nghiên cứu của mình, Cingano và Cipollone23 cũng tìm thấy rằng yếu tố quan trọng nhất quyết định bỏ học là hoàn cảnh gia đình và năng lực học tập của SV. Nhiều nghiên cứu khác tìm thấy những lý do phổ biến khiến SV bỏ học, bao gồm: lựa chọn sai khóa học, áp lực tài chính hoặc việc làm, thiếu sự chuẩn bị, không hài lòng với tổ chức, khó khăn trong học tập và thiếu hòa nhập xã hội24, 25, 26. Một nghiên cứu định tính ở Thái Lan phát hiện năm lý do chính dẫn đến việc bỏ học là (1) những lo ngại về việc đăng ký học ngành không yêu thích, (2) vấn đề an ninh, (3) lối sống, (4) các vấn đề về quản lý thời gian và (5) các vấn đề gây ra bởi sự rạn nứt hoặc thay đổi trong mối quan hệ thân mật9.

Một nghiên cứu ở Anh về ảnh hưởng của những thay đổi chính sách học phí ảnh hưởng đến tình trạng học đại học ở Anh27 cho thấy việc thay đổi học phí theo mức tăng có ảnh hưởng đến việc đăng ký học và tình trạng bỏ học trong SV, đặc biệt ở các nhóm ngành có thu nhập và cơ hội việc làm thấp sau khi tốt nghiệp. Trong khi đó, sự thay đổi về học phí không ảnh hưởng đến tình trạng này ở nhóm ngành có mức thu nhập và cơ hội việc làm cao sau tốt nghiệp. Một công bố khác cũng của tác giả này năm 2019 tái khẳng định rằng sự gia tăng học phí làm giảm mức độ đăng ký học đại học và tăng tỷ lệ bỏ học ở các nhóm ngành có cơ hội việc làm và mức lương thấp 28. Những khẳng định này phù hợp với mô hình lý thuyết rằng SV có tính đến thu nhập dự kiến và cơ hội việc làm sau khi ra trường khi đưa ra quyết định lựa chọn và theo đuổi ngành học; việc tăng học phí sẽ không gây ảnh hưởng đến việc tham gia học ở các nhóm ngành có cơ hội việc làm và thu nhập cao sau khi tốt nghiệp. Các kết quả nghiên cứu này gợi ý rằng cần phải cân nhắc mức học phí theo đặc trưng ngành học27, 28, 29.

Tình trạng bỏ học trong khối ngành khoa học xã hội và nhân văn được tìm thấy có mối quan hệ với sự yêu thích ngành học và thành tích học tập trong năm học đại học đầu tiên. Các tác giả tìm thấy rằng rất ít SV chọn khối ngành khoa học xã hội như là ưu tiên của họ, và do vậy họ có ít động lực duy trì việc học12. Trong nghiên cứu của mình, Mestan 11 xác định có hai nhóm nguyên nhân dẫn đến quyết định bỏ học: Thứ nhất là nhóm nguyên nhân mang tính cá nhân như sức khỏe, việc làm, tài chính, quan hệ cá nhân. Thứ hai là nhóm nguyên nhân liên quan đến thể chế trường học như ngành học thiếu định hướng và mục tiêu nghề nghiệp, khó hình thành mối quan hệ xã hội trong trường, chất lượng giảng viên kém. Từ những nhóm nguyên nhân này khiến sinh viên dễ dàng đi đến quyết định bỏ học thay vì nỗ lực để hòa nhập học thuật và xã hội trong môi trường đại học.

Các yếu tố ảnh hưởng đến bỏ học ở sinh viên trên thế giới

Ngoài các nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân dẫn đến việc sinh viên bỏ học kể trên, một số nghiên cứu khác bổ sung một số yếu tố khác ảnh hưởng đến bỏ học ở sinh viên.

Các công trình của Tinto30, Engstrom và Tinto 31 đã cung cấp nhiều phát hiện có giá trị về hành vi bỏ học ở bối cảnh phương Tây. Trong mô hình “Giữ chân/bỏ học”, Tinto30 đã nhấn mạnh 3 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mục tiêu học tập và sự cam kết của cá nhân đối với tổ chức, đó là (1) thuộc tính cá nhân, (2) kinh nghiệm trước khi học đại học và (3) nền tảng gia đình. Các thuộc tính cá nhân bao gồm chủng tộc, giới tính, khả năng học tập. Trải nghiệm học tập trước khi học đại học bao gồm điểm học tập ở trường phổ thông, thành tích học tập và thành tích xã hội. Nền tảng gia đình bao gồm địa vị xã hội, các giá trị và kỳ vọng. Tinto30 đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố kỳ vọng của gia đình về trình độ học vấn của cá nhân có ảnh hưởng đến khả năng bỏ học, đến độ dài về thời gian SV gắn bó với nhà trường. Theo Tinto32 các đặc điểm cá nhân và nền tảng kinh tế xã hội của gia đình có ảnh hưởng đến cách mà SV tương tác hội nhập và cam kết với nhà trường. Các nghiên cứu sau này chịu ảnh hưởng ít nhiều từ mô hình nghiên cứu trên của Tinto30.

Các tác giả phân tích và nhận diện nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến quyết định bỏ học ở SV. Tỷ lệ bỏ học có mối quan hệ với kết quả học tập, tỷ lệ thành công và điểm trung bình học tập4. Các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ bỏ học được xác định là tuổi SV bắt đầu học đại học, trình độ học vấn của cha và mẹ, thành tích học tập của SV và tùy theo chuyên ngành học đang theo học. Theo đó, SV có nguy cơ bỏ học cao hơn khi họ bắt đầu theo học đại học trễ, khi cha và mẹ của SV có trình độ học vấn thấp, khi điểm học tập của SV kém. Riêng đối với yếu tố chuyên ngành, trong các nhóm chuyên ngành, sẽ có những ngành có tỷ lệ SV bỏ học cao hơn ngành khác. Ví dụ, trong nhóm ngành kỹ thuật, sinh viên ngành Quản lý phần mềm có nguy cơ bỏ học cao gấp 181 lần SV ngành Công nghệ phần mềm, hoặc trong nhóm ngành Nhân văn, sinh viên ngành Triết có tỷ lệ bỏ học thấp hơn những ngành khác4.

Nhìn chung, có đa dạng các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bỏ học đã được xác định và có thể phân loại các yếu tố đó trong ba nhóm chính: (1) Nhóm yếu tố mang tính cá nhân; (2) Nhóm yếu tố nền tảng kinh tế xã hội; và (3) Nhóm yếu tố liên quan đến môi trường sư phạm.

Trong phần này, chúng tôi sẽ phân tích cụ thể về ba nhóm yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bỏ học.

Các yếu tố mang tính cá nhân

Các yếu tố mang tính cá nhân có liên quan đến đặc điểm nhân khẩu học như giới tính, độ tuổi, khả năng hòa nhập học học thuật và xã hội, hành vi học tập và động cơ học tập ở SV. Nhiều nghiên cứu tìm thấy rằng SV nam có tỷ lệ bỏ học cao hơn SV nữ6, 8, 9, 23. Tỷ lệ bỏ học của SV nữ ở các trường kỹ thuật cao hơn tỷ lệ của SV nam khoảng 80%. Sự khác biệt giữa nam và nữ về tỷ lệ bỏ học có thể do nhiều nguyên nhân văn hóa xã hội khác 33.

Nghiên cứu của Tinto 30 trong môi trường giáo dục đại học ở Hoa Kỳ đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự hòa nhập học thuật và hòa nhập xã hội (tức là sự tham gia vào các hoạt động trong môi trường học đường). Hai yếu tố này có thể được dùng để dự báo khả năng bỏ học của SV. Theo Tinto, tình trạng bỏ học xuất phát từ sự tương tác không thành công giữa SV với hệ thống học thuật và xã hội trong các cơ sở giáo dục30. Theo tác giả này, sự thiếu hòa nhập học thuật và xã hội có liên quan đến yếu tố nguồn gốc gia đình và xã hội. Một quan điểm lý thuyết khác gắn kết mối quan hệ giữa sự hòa nhập học thuật và xã hội với tình trạng bỏ học là “mô hình sinh viên bỏ học” được đề xuất bởi Bean34. Trong mô hình này, Bean nhấn mạnh đến yếu tố hài lòng của SV với tình hình học tập của họ. Theo đó, sự hài lòng được liên kết với các biến số như sự phát triển tri thức, điểm số, sự hài lòng với chương trình và nội dung học, sự tham gia các khóa học và tham gia vào các tổ chức SV34.

Trong dòng quan điểm này, nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối quan hệ giữa sự thiếu hòa nhập học thuật với nguy cơ bỏ học. Các nghiên cứu đã tìm thấy rằng những SV có sự yếu kém về học thuật thường có nguy cơ bỏ học cao hơn8, 35, 36. Một nghiên cứu khác kết luận rằng điểm trung bình tích lũy tăng một điểm sẽ làm tăng khả năng SV quay trở lại trường trong những năm học tiếp theo37. Giải thích cho thành tích học tập kém dẫn đến quyết định bỏ học, Davies và Elias 24 cho rằng là do SV đã chọn sai ngành học. Trong khi đó, theo Sitticha 9, SV học tập không tốt trong học kỳ đầu tiên là do tiêu chuẩn nội dung môn học của môi trường đại học khác với trường phổ thông. SV đồng thời chịu áp lực của chương trình với nhiều môn học trong khi họ phải thích ứng với cuộc sống đại học, làm cho điểm trung bình bị sút giảm. Cùng chia sẻ quan điểm này, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng quá trình chuyển đổi hoặc thích nghi với môi trường đại học là một quá trình căng thẳng vì SV phải đối phó với một môi trường nhận thức phức tạp mà họ chưa từng tiếp xúc trong các giai đoạn giáo dục trước đó 38. Quá trình này cho thấy các nguy cơ thất bại trong môi trường đại học đối với tân SV – điều được hiểu như là một quá trình trong đó một SV dần dần rời xa, không còn kết nối với hệ thống giáo dục. Đây có thể là nguyên nhân của tình trạng có tỷ lệ cao SV bỏ học trong những năm đầu tiên6, 9, 10, 26, 33, 39.

Hành vi học tập được xác định là có mối liên hệ với xác suất bỏ học của SV. Ý định hoặc quyết định bỏ học gồm mức độ tham gia hoạt động của SV trong môi trường học đường. Những SV có mức độ tham gia hoạt động học tập thấp có nguy cơ bỏ học cao hơn so với SV có mức độ hoạt động học tập cao. Sự nỗ lực học tập có vai trò thúc đẩy SV theo đuổi hoàn thành chương trình học. Mặc dù mức độ tham gia và nỗ lực của SV mang đặc tính cá nhân, nhưng nó chịu ảnh hưởng bởi cách thức tổ chức giảng dạy và môi trường học đường7.

Động cơ của SV được cho là một trong những yếu tố chính quyết định khả năng duy trì và hoàn thành chương trình học. Dựa vào đánh giá động cơ học tập trong quá trình tuyển sinh có thể là một cách hiệu quả để giảm tình trạng bỏ học giữa chừng 4. Trong nghiên cứu của mình, Hovdhaugen7 thấy rằng động cơ học tập thể hiện qua định hướng nghề nghiệp, sở thích, mục tiêu giáo dục. Những yếu tố này có mối quan hệ với tình trạng bỏ học. Theo đó, nếu SV có mục tiêu giáo dục rõ ràng sẽ có ít nguy cơ cơ bỏ học hơn.

Các yếu tố nền tảng kinh tế xã hội

Theo lý thuyết vị trí xã hội (social position theory), mức độ khát vọng của cá nhân thay đổi tùy theo nền tảng kinh tế xã hội của cá nhân đó40. Theo đó, người con có xu hướng sẽ hướng mục tiêu đạt được trình độ học vấn ít nhất là bằng với cha mẹ, để tránh tình trạng xuống cấp về mặt xã hội. Những người cha người mẹ có trình độ đại học sẽ nuôi dạy và định hướng con của họ đạt được cấp bậc học cao hơn. Do vậy, con cái trong gia đình có trình độ học vấn cao sẽ có động lực mạnh mẽ để hoàn thành chương trình học đại học. Dựa vào những lập luận trên, có sự kỳ vọng rằng con cái có cha mẹ có trình độ học vấn tốt sẽ có xác suất bỏ học thấp hơn. Bourdieu41 từng lập luận rằng những người có xuất thân từ những gia đình có trình học học vấn cao sẽ có vốn văn hóa hơn những người có xuất thân từ gia đình có trình độ học vấn thấp. Vốn văn hóa này cung cấp cho những người con năng lực quan trọng để thành công ở trường42.

Quan điểm lý thuyết trên đã được kiểm chứng trong nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng bỏ học trong sinh viên4, 7, 43. SV có cha không có bằng cấp có nguy cơ bỏ học cao gấp 3 lần SV có cha có bằng cấp4. Tương tự, nguy cơ bỏ học của SV có mẹ không có bằng cấp cao gấp 2,4 lần so với người có mẹ có bằng cấp4. Nghiên cứu của Hansen43 cũng tìm thấy rằng SV có xuất thân từ gia đình có vốn văn hóa có khả năng học đại học cao hơn 30-35 lần so với SV có xuất thân từ tầng lớp lao động không có tay nghề. SV có nguồn gốc gia đình có trình độ học vấn tốt có cơ hội có bằng đại học cao gấp 3 lần so với nhóm đối sánh43. Trình độ học vấn của cha mẹ có ảnh hưởng đến tình trạng bỏ học, theo đó, xác suất bỏ học sẽ thấp hơn khi SV có cha và mẹ đều có trình độ học vấn cao7.

Yếu tố liên quan đến môi trường sư phạm

Nghiên cứu của Heublein5 cho thấy nguyên nhân của thực trạng này đến từ khó khăn trong quá trình chuyển đổi và các vấn đề liên quan đến chương trình đào tạo cử nhân. Nhóm tác giả này nhận thấy rằng tỷ lệ SV bỏ học ở chương trình khoa học cử nhân cao hơn so với chương trình đào tạo khoa học ứng dụng. Các kết quả tương tự cũng được phản ánh trong nhiều nghiên cứu khác6, 10, 39, 44.

Chương trình học khó, gây ra căng thẳng cũng dẫn đến nguy cơ bỏ học ở SV6. Theo đó, SV cảm thấy các ngành toán, thống kê, chương trình máy tính khó và làm ảnh hưởng đến điểm đạt được của SV. Điều này làm tăng nguy cơ thất bại học đường và thậm chí bỏ học. Nghiên cứu của Tentshol10 cũng cho thấy rằng nguy cơ bỏ học ở một số ngành cao hơn ngành khác. Cụ thể, tỷ lệ bỏ học rất cao được ghi nhận ở các ngành như Khoa học công nghệ (48,2%), Mỹ học và ứng dụng (46,6%), trong khi tỷ lệ bỏ học ở ngành Khoa học sư phạm chỉ 12,4%. Nghiên cứu của Paura and Arhipova44 kết luận rằng có khoảng 34,4% SV bỏ học ở khoa Khoa học kỹ thuật trong năm đầu tiên, và điều này có mối liên hệ với chương trình giảng dạy và điểm trung bình học tập của SV ở năm đầu tiên.

Tóm lại, có đa dạng yếu tố ảnh hưởng đến ý định hoặc quyết định bỏ học ở SV trên thế giới. Có thể phân loại, sắp xếp các yếu tố ảnh hưởng trên thành bốn nhóm chính, đó là (1) khó khăn hòa nhập xã hội trong trường học, (2) áp lực trong học tập, (3) khó khăn để hòa nhập học thuật trong môi trường đại học, (4) khó khăn do yếu tố kinh tế, học phí hoặc thiếu trợ cấp từ gia đình, (5) tầng lớp xã hội và trình độ của cha mẹ và (6) môi trường sư phạm, chương trình đào tạo và kết quả học tập.

Table 1

Các nghiên cứu về vấn đề bỏ học ở sinh viên đại học trên thế giới

STT

Tên đề tài

Tên tác giả (Năm xuất bản)

Địa bàn nghiên cứu (NC)

Phương pháp NC

Quy mô mẫu (Sinh viên)

Tỷ lệ bỏ học/ đình chỉ học tập

Nguyên nhân

Các yếu tố ảnh hưởng

1

Dropping Out of University: A Statistical Analysis of the Probability of Withdrawal for UK University Students

Smith & Naylor (2001)13

Anh Quốc

Định lượng

400

8,70%

Mức độ chuẩn bị sẵn sàng cho học tập đại học và sự hòa nhập xã hội của SV.

Tỷ lệ thất nghiệp ở địa phương, đặc điểm tầng lớp xã hội của gia đình.

2

An Investigation into the causes of Student Drop Out Behaviour

Lockhart (2004)21

Anh Quốc

Định tính

15

-

NC này chứng minh rằng nhớ nhà và trầm cảm không là nguyên nhân chính của hành vi bỏ học. Các nguyên nhân bỏ học đan xen nhau.

Sự hòa nhập học thuật và xã hội, sự tự tin của SV.

3

University drop-out: The case of Italy

Cingano & Cipollone (2007)23

Ý

Định lượng

-

23%-25%

Hoàn cảnh gia đình, năng lực học tập của SV.

Giới tính (Nam), công tác tuyển sinh.

4

Learning better together: The impact of learning communities on the persistence of low-income students

Engstrom & Tinto (2008)31

Mỹ

Hỗn hợp

3907 bản hỏi

-

-

Điều kiện kinh tế của gia đình, giới tính, chủng tộc. Vai trò của mô hình học tập dựa vào cộng đồng để hỗ trợ nhóm yếu thế.

266 PVS cá nhân

20 Thảo luận nhóm

5

Discontinuation among university students in Pattani

Sittichai (2008)9

Thái Lan

Định lượng

11.408

5%

-

Năm 1 và năm 2 đại học.

6

Why do higher education students drop out? Evidence from Spain

Lassibille &Navarro Gómez (2008)33

Tây Ban Nha

Định lượng

7

46%

-

Năm 1 và năm 2 đại học, giới tính (nữ), mức độ chuẩn bị cho học đại học, sự hỗ trợ tài chính của gia đình.

7

Factors influencing university drop out rates

Araque và cs (2009)4

Tây Ban Nha

Định lượng

75.83

49,60%

Kết quả học tập, tỷ lệ thành công và điểm trung bình học tập

Tuổi bắt đầu theo học đại học; Điểm trung bình; đặc thù chuyên ngành, trình độ học vấn của cha và mẹ.

8

Transfer and dropout: different forms of student departure in Norway

Elisabeth Hovdhaugen (2009) 7

Nauy

Định lượng

1.78

17,9%

-

Trình độ học vấn của cha mẹ, hành vi học tập.

9

University drop-out: An Italian experience

Belloc và cs (2010)3

Ý

Định lượng

9.725

15,60%

Thành tích học tập kém.

Loại trường cấp 3 theo học, và kết quả học tập.

10

What is behind university dropout decision in Brazil? A bivariate probability model

Guimarães và cs (2010) 8

Brazil

Định lượng

7.582

43,40%

-

Giới tính (Nam), tình trạng hôn nhân, thu nhập của gia đình.

11

Identifying the necessary and sufficient number of risk factors for predicting academic failure

Lucio và cs (2012)45

Mỹ

Định lượng

14.736

-

Sự tham gia học tập, kỳ vọng học tập, năng lực học tập, việc hoàn thành bài tập ở nhà, sự hòa nhập với trường học, sự an toàn trong trường học, mối quan hệ với giảng viên.

12

Why are there dropouts among university students? Experiences in a Thai University

Sittichai (2012) 9

Thái Lan

Định tính

35

-

(1) những lo ngại về việc đăng ký học ngành không yêu thích, (2) vấn đề an ninh và (3) lối sống, (4) các vấn đề về quản lý thời gian và (5) các vấn đề gây ra bởi sự rạn nứt hoặc thay đổi trong mối quan hệ thân mật

13

Students’ failure in academic environment

Mihai (2014)6

Thổ Nhĩ Kỳ

Định lượng

-

12%

Nguyên nhân mang tính cá nhân, mang tính hoàn cảnh và các vấn đề về khó khăn về tình cảm và tâm lý trong học tập.

Yếu tố xã hội, yếu tố học thuật, yếu tố sinh học.

14

Beyond demographics: Predicting student attrition within the Bachelor of Arts degree

Harvey & Luckman (2014) 12

Australia

Định lượng

1.124

30,50%

Sự yêu thích ngành học, thành tích học tập.

15

The effect of tuition fees on university applications and attendance: Evidence from the UK

Sá (2014) 27

Anh Quốc

Định lượng

SV từ 156 trường đại học

42%

Sự gia tăng mức học phí.

16

Cause Analysis of Students’ Dropout Rate in Higher Education Study Program

Paura & Arhipova (2014)44

Latvia

Định lượng

677

34,40%

Chương trình học, điểm trung bình học tập, giới tính (nam), chuyên ngành (khoa).

17

Student drop‐out from German higher education institutions

Heublein (2014)5

Đức

Tổng quan

-

40%

Khó khăn tài chính, trình độ kiến thức không đủ đáp ứng học đại học.

Các yếu tố cá nhân, điều kiện sống, điều kiện học tập.

18

Why students drop out of the Bachelor of Arts

Mestan (2016)11

Australia

Định tính

17

-

Các lý do cá nhân: sức khỏe, việc làm, tài chính, quan hệ cá nhân. Các lý do thể chế: ngành học thiếu định hướng và mục tiêu nghề nghiệp, khó hình thành mối quan hệ xã hội trong trường, chất lượng giảng viên kém.

Ý thức về mục tiêu học tập, định hướng học tập, phương pháp sư phạm, cách dịch vụ hỗ trợ học tập.

19

Determinants of university dropout: A case of Thailand

Tentshol và cs (2019)10

Thái Lan

Định lượng

10.377

23,90%

Khó khăn trong cách học đại học, cách tiếp cận của giảng viên.

Giới tính (nam), tôn giáo, ngành học, năm học, điểm trung bình học tập, năm nhập học, hình thức tuyển sinh.

20

Lonely, homesick and struggling: undergraduate students and intention to quit university

Boddy (2020)15

Australia

Định tính

33

-

Nhớ nhà, trầm cảm, cảm giác cô đơn.

Sự hòa nhập xã hội của SV.

21

Beyond university dropout. An approach to university transfer

Aparicio-Chueca và cs (2021)39

Tây Ban Nha

Định lượng

46.531

32,70%

Thành tích học tập kém, mức độ yêu cầu về bằng cấp, chất lượng đào tạo thấp.

Trình độ học vấn của cha mẹ, tầng lớp xã hội của gia đình, chương trình học.

Tổng quan về thực trạng bỏ học của sinh viên ở Việt Nam

Table 2 trình bày tóm tắt 15 nghiên cứu về thực trạng bỏ học và các yếu tố tác động đến bỏ học của sinh viên tại Việt Nam. Tương tự với các nghiên cứu được tiến hành trên thế giới về chủ đề này, nghiên cứu định lượng vẫn là phương pháp nghiên cứu chủ yếu để khảo sát vấn đề bỏ học ở sinh viên (9/15 nghiên cứu). Các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu chỉ ra tỷ lệ sinh viên bỏ học và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này, song hiếm có nghiên cứu xây dựng mô hình lý thuyết để lý giải về hành vi bỏ học.

Thực trạng tỷ lệ bỏ học ở sinh viên Việt Nam

Ở Việt Nam, tình trạng SV bỏ học hoặc bị buộc bỏ học rất đáng báo động theo kết quả từ nhiều số liệu thống kê và nghiên cứu được thực hiện trong vòng 10 năm gần đây. Các báo cáo phân tích cũng có xu hướng phản ánh tình trạng bỏ học ở các đơn vị trường cụ thể. Tình trạng này được ghi nhận phổ biến ở các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng cả ba miền Bắc, Trung, Nam.

Ở khu vực miền Bắc, theo báo cáo của nhóm tác giả Trịnh Thị Việt Hồng và Lê Huy Tùng46, tỷ lệ SV bỏ học tại Trường Cao Đẳng Nghề Công nghiệp Thanh Hóa là 6,65% trong giai đoạn 2012-2015. Một nghiên cứu khác được thực hiện tại trường Đại học Thăng Long, trên mẫu khảo sát là 475 SV, có khoảng 23,5% có nguy cơ bỏ học47. Tại Trường Đại học FPT cơ sở Hòa Lạc - Hà Nội, dữ liệu nghiên cứu mới nhất cho thấy có khoảng 5,0% SV bỏ học giữa chừng ở giai đoạn chuẩn bị tiếng Anh đầu vào, khoảng 5,0% bỏ học ở giai đoạn bắt đầu học tập chính thức48. Theo số liệu thống kê công bố trên Báo Lao Động, mỗi năm, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội có tới 700-800 SV bị buộc bỏ học49.

Ở khu vực miền Trung, một nghiên cứu tại Trường Đại học Duy Tân Đà Nẵng cho thấy số lượng SV bỏ học theo ngành từ năm 2016 đến 2019 có xu hướng tăng lên, trong đó ngành An ninh mạng CMU có tỷ lệ bỏ học cao nhất, từ 10% năm 2016 tăng lên 20% vào năm 201950. Tại Trường Đại học Phan Thiết, tỷ lệ SV bỏ học giai đoạn 2015-2017 khoảng 15%; tỷ lệ này có xu hướng giảm dần ở giai đoạn 2017-2019, xuống còn 8,02%. Tuy nhiên, giai đoạn 2019-2020 chứng kiến sự gia tăng trở lại tình trạng này, với tỷ lệ SV bỏ học được ghi nhận là 11,52%51.

Ở khu vực phía Nam, một nghiên cứu tại Trường Đại học Mở công bố năm 2014, trên bộ dữ liệu khảo sát 568 SV, đã ghi nhận tỷ lệ SV bỏ học cao nhất ở ngành Xây dựng (57,5%), tiếp đến là Kế toán (41,3%), Xã hội học là ngành có tỷ lệ bỏ học thấp nhất (2,2%)52. Ở Đại học Hùng Vương, tỷ lệ SV bỏ học trung bình các khóa dao động trong khoảng từ 18% đến 22% so với số lượng tuyển sinh đầu khóa53. Xét riêng nhóm các trường thành viên trực thuộc ĐHQG-HCM, tỷ lệ SV bỏ học hoặc có nguy cơ bỏ học nằm ở mức đáng báo động. Theo Báo Lao Động, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM đã từng đưa ra quyết định buộc thôi học 454 SV và cảnh cáo 605 SV khác 49. Trong khi đó, Trường Đại học Công nghệ thông tin, ĐHQG-HCM cũng ghi nhận tình trạng nhiều SV bỏ học với số lượng lên tới khoảng 600 trường hợp49. Trường Đại học Bách khoa, ĐHQG-HCM báo cáo hàng năm có khoảng từ 5-6% sinh viên/khoá bị buộc thôi học 49. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tường ghi nhận có đến 70% SV Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM) không tốt nghiệp đúng hạn54. Cũng trong báo cáo này, tác giả dẫn dữ liệu trong báo cáo thường niên của ĐHQG-HCM mỗi năm Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM có khoảng 400-500 sinh viên thuộc diện buộc thôi học54.

Trên cơ sở khảo sát 250 SV khóa 2017-2018 của Trung tâm Đào tạo thường xuyên, Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An đã đưa ra dự báo rằng có khoảng 10,8 % SV có nguy cơ bỏ học54. Theo phản ánh của báo Lao Động, tại Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh, có 2.252 SV đã không tham gia học tập trong học kỳ I năm học 2019-2020 mà không có lý do chính đáng; Trường Đại học Giao thông Vận tải TP. HCM đã cảnh báo 2.135 SV về kết quả học tập kém, trong số đó có 257 SV bị đình chỉ học; Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh đã buộc bỏ học hơn 450 SV do không hoàn thành các yêu cầu học tập và 571 SV khác bị cảnh cáo49.

Đối sánh với các nghiên cứu trên thế giới (Table 1), có thể thấy tỷ lệ bỏ học ở SV Việt Nam nằm trong khoảng 20-30% (Table 2); tuy nhiên, có sự khác biệt giữa các trường và ngành học. Khác với các nghiên cứu trên thế giới, ở Việt Nam còn ít nghiên cứu cung cấp tỷ lệ bỏ học theo giới tính, theo năm học; một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sinh viên bỏ học thường rơi vào sinh viên năm nhất và năm hai.

Nguyên nhân bỏ học ở sinh viên Việt Nam

Tìm hiểu nguyên nhân SV bỏ học, nghiên cứu của Trịnh Thị Việt Hồng & Lê Huy Tùng lý giải rằng SV Trường Cao đẳng Nghề Công nghiệp Thanh Hóa bỏ học vì chưa xác định đúng mục đích học tập của bản thân, cụ thể, nhiều SV lựa chọn ngành học không phù hợp với điều kiện của bản thân và gia đình, sau đó chuyển đổi ngành học, chuyển trường hoặc nghỉ học46. Nhiều SV lựa chọn nhiều hình thức học tập khác như thi lại, du học, học nghề, tìm kiếm ngành khác phù hợp hơn [50].

Khả năng tư duy hạn chế cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ học. Nghiên cứu của Trần Hoàng Thị Diễm Ngọc và cs47 lý giải rằng bản thân SV không nhìn thấy được tương lai của mình trong việc học tập hay không theo kịp chương trình học dẫn đến việc học tập trở nên yếu kém. Nhiều SV bị hổng kiến thức từ các cấp học nên đến không theo kịp chương trình học hiện tại53.Chất lượng SV đầu vào kém, khả năng ngoại ngữ của SV không tốt gây cản trở khó khăn trong quá trình học tập trong môi trường đại học50. Bên cạnh đó, kết quả học tập kém khiến SV không theo kịp chương trình học, gây nên tình trạng chán nản và dẫn đến nguy cơ bỏ học50, 53. Việc nợ môn học quá nhiều cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ học53.

Nhiều SV trải qua năm tháng đại học phải sống xa gia đình. Chính điều này khiến họ thiếu đi sự quan tâm, chăm sóc, động viên thường xuyên của người thân53, 54. Trong điều kiện sống như vậy, SV phát triển các mối quan hệ tình cảm sớm, nóng vội; điều này dễ khiến SV rơi vào trạng thái lo âu khủng hoảng nếu không đủ bản lĩnh kiểm soát, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như có thai, nạo phá thai, chia tay ảnh hưởng lớn đến tâm lý, sức khỏe, và hệ quả là bỏ học53.

Bên cạnh các nguyên nhân mang tính cá nhân, SV còn bỏ học bởi các áp lực về kinh tế, tài chính, đi làm thêm. Nghiên cứu của Phan Đức Thuấn53 cho biết nhiều SV có khả năng bỏ học do các vấn đề về kinh tế, tài chính. Với mong muốn phụ giúp gia đình về kinh tế, SV đã đi làm thêm; điều này khiến họ gặp áp lực về thời gian, đặc biệt trong việc cân bằng giữa thời gian học tập và làm việc46.

Nguyên nhân khách quan chủ yếu đến từ sự quan tâm của các lực lượng giáo dục trong nhà trường, từ cán bộ quản lý giảng viên, giáo viên chủ nhiệm, cố vấn học tập. Chẳng hạn, nguyên nhân chủ yếu khiến SV Đại học Duy Tân bỏ học nằm ở khâu quản lý SV của trường50. Sự phối hợp giữa lãnh đạo nhà trường cùng các giảng viên chưa thật sự chặt chẽ. Một số giảng viên gặp khó khăn khi thiết kế bài giảng cho SV vì chất lượng SV không đồng đều. Nhà trường chưa có một cái nhìn khái quát về người học, dẫn đến việc không đưa ra được nguyên nhân vì sao SV bỏ học và dự báo về tỉ lệ SV bỏ học trong tương lai. Phương pháp kiểm soát SV theo điểm số chỉ khuyến khích được SV giỏi, phớt lờ những SV chưa giỏi dẫn đến tinh thần học tập của những SV này đi xuống. Mặt khác, nhà trường cũng ít có sự phối hợp trong công tác quản lý SV, thiếu sự quan tâm của thầy cô và nhà trường khiến cho SV có suy nghĩ bỏ học 53. Hơn thế nữa, chương trình học dày đặc, mang nặng tính học thuật, không có nhiều đổi mới cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ học của SV47, 53.

Một nguyên nhân quan trọng đến từ chi phí đào tạo các ngành học của trường đại học, chi phí đào tạo cao, nhiều SV gặp khó khăn trong việc chi trả học phí; tuy nhiên, phía nhà trường thiếu đi những cơ chế, chính sách hỗ trợ/giải quyết khó khăn cho SV như hỗ trợ tài chính, hỗ trợ việc làm dẫn đến việc nhiều SV không thể tiếp tục học53.

Ngoài ra, một số nhà quản lý đại học trong khối Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ trong các báo cáo thường niên về các lý do bỏ học khác, chẳng hạn SV đã tìm được việc làm từ khi là sinh viên năm 3, năm 4 nên không hoàn thành được chương trình học để có bằng tốt nghiệp đại học; SV bị thôi học do kết quả học tập yếu kém, bị đuổi học do hai học kỳ liên tiếp bị cảnh báo học vụ, sinh viên vi phạm kỷ luật, vi phạm quy chế đào tạo.

Như vậy, có thể sắp xếp các nguyên nhân dẫn đến bỏ học của SV ở Việt Nam thành ba nhóm chính: (1) nhóm nguyên nhân đến từ bản thân SV gồm mục đích học tập, khả năng tư duy và năng lực bị hạn chế, khó khăn về tài chính, thiếu sự ủng hộ của gia đình, thiếu các mối quan hệ tình cảm tích cực; (2) nhóm những nguyên nhân bên ngoài gồm thiếu sự quan tâm của nhà trường đối với sinh viên; thiếu chặt chẽ trong việc phối hợp quản lý của nhà trường và thầy cô, chương trình đào tạo chậm đổi mới; chi phí đào tạo cao; thiếu chính sách hỗ trợ sinh viên khó khăn và (3) các vấn đề liên quan đến học vụ.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bỏ học ở sinh viên Việt Nam

Đa số các nghiên cứu về chủ đề này ở Việt Nam đều đặt mục tiêu nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hoặc quyết định bỏ học của SV. Từ kết quả của các nghiên cứu trước (Table 2), có thể phân loại các yếu tố ảnh hưởng thành các nhóm như sau: (1) Nhóm yếu tố cá nhân (đặc điểm nhân khẩu học, động lực học tập, khả năng thích ứng và năng lực học tập của SV); (2) Nhóm yếu tố gia đình (sự ủng hộ và quan tâm con cái; quy mô cấu trúc gia đình; học vấn của bố mẹ, phương pháp nuôi dạy con); và (3) Nhóm yếu tố nhà trường (quản lý sinh viên, quan tâm và hỗ trợ sinh viên, chương trình đào tạo).

Nhóm yếu tố cá nhân

Các yếu tố thuộc về đặc điểm nhân khẩu học xã hội như giới tính, tôn giáo, dân tộc, trình độ học vấn; khu vực sinh sống, các mối quan hệ tình cảm được, năng lực học tập yếu kém được cho là có tác động đến quyết định bỏ học của sinh viên 53, 55, 56, 57. Nhìn chung, SV nam gặp nhiều căng thẳng hơn SV nữ; họ chịu áp lực phải có bằng cử nhân từ khá trở lên với mong đợi có thể kiếm một công việc tốt sau khi tốt nghiệp. Thêm vào đó, phần lớn SV nam đều có công việc bán thời gian nên khó có thể cân bằng được cả việc học và việc làm 57.

Vấn đề về khả năng thích ứng học thuật và xã hội trong môi trường đại học ảnh hưởng đến quyết định bỏ học trong SV được khai thác ở nhiều khía cạnh khác nhau. Theo góc nhìn tâm lý cá nhân, nghiên cứu của Trần Nguyễn Hoàng Quân 57 đã tìm thấy sự phổ biến của hiện tượng căng thẳng (stress) trong SV, trong đó tỷ lệ nam SV có trải nghiệm này cao hơn so với nữ SV. So sánh giữa các năm học, SV năm 4 có trải nghiệm căng thẳng cao hơn SV các năm học trước đó. Nghiên cứu của Võ Văn Việt58 cũng cho thấy SV đang gặp nhiều khó khăn trong việc thích ứng với áp lực ở môi trường đại học, dẫn đến căng thẳng hoặc lo lắng và suy nghĩ không ngừng. Năng lực quản lý và ứng phó căng thẳng yếu kém cùng với sự thiếu hụt tinh thần tự kỷ luật và tự tạo động lực cho bản thân khiến SV dễ dẫn đến ý định bỏ học giữa chừng59.

Năng lực học tập yếu kém cũng ảnh hưởng đến ý định bỏ học. Điểm học tập yếu kém có tác động mang tính trực tiếp đến ý định hoặc quyết định bỏ học57, 55, 53, 48. Các tác giả chia sẻ quan điểm rằng do chưa thích nghi với việc thay đổi phương thức học tập từ môi trường phổ thông lên môi trường đại học nên SV bị áp lực với những hình thức học, hình thức kiểm tra kiến thức mới, khiến kết quả học tập kém, từ đó chán nản và muốn bỏ học.

Một vấn đề cá nhân khác được các nghiên cứu tìm thấy là động lực học tập. Các tác giả có xu hướng nhấn mạnh rằng động lực học tập có ảnh hưởng đến nguy cơ bỏ học trong SV54, 59. Trên thực tế, một số nghiên cứu phát hiện rằng nhiều SV không học đại học vì mục tiêu tích lũy kiến thức, kỹ năng hoặc vì mục tiêu nghề nghiệp trong tương lai. Họ học đại học để tránh nghĩa vụ quân sự, số khác bị gia đình ép buộc đi học hay học để bằng bạn bè 46, 60. Động lực học tập của SV bị ảnh hưởng bởi những hứng thú khi tiếp thu điều mới mẻ trong môn học, cảm giác được khen thưởng và được công nhận sau những lần nỗ lực trong học tập, và đặc biệt là cơ hội tiếp cận mạng lưới việc làm giữa các SV, SV với giảng viên, SV với doanh nghiệp56. Tuy nhiên, thông qua quá trình cọ sát với thực tế xã hội, họ biết rằng chương trình học của họ không có triển vọng trong tương lai, khó mang lại một công việc được đánh giá cao và đảm bảo thu nhập, điều này sẽ ảnh hưởng đến ý định tiếp tục học hay dừng lại của SV. Việc SV tiếp tục theo đuổi những chương trình học không phù hợp sẽ khiến họ gặp khó khăn trong cuộc sống sau khi tốt nghiệp. Dưới tác động của truyền thông và mạng xã hội, hình ảnh của những cử nhân thất nghiệp, chật vật trong cuộc sống tác động ngược lại những SV đang theo học, dẫn đến động lực học tập của SV bị suy giảm, nguy cơ bỏ học sớm xuất hiện56.

Tổng hợp các yếu tố cá nhân tác động đến vấn đề bỏ học của SV Việt Nam từ những nghiên cứu trước đây, có thể thấy nhóm các yếu tố liên quan đến đặc điểm nhân khẩu học xã hội, năng lực học tập, động lực học tập có ảnh hưởng đến ý định bỏ học của SV.

Yếu tố nhà trường

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy sự quản lý của nhà trường, khoa/bộ môn hay chính giảng viên có ảnh hưởng không nhỏ đến việc bỏ học của sinh viên. Việc nhà trường chưa quản lý chặt SV khiến tình trạng không trung thực trong học tập diễn ra phổ biến; thêm vào đó, sự tương tác ở không gian lớp học không tốt dẫn đến nhiều SV không hiểu hết nội dung bài học, nảy sinh tâm lý chán nản, không muốn học47. Ngoài ra, tình trạng học phí và yếu tố truyền thông về các chương trình học chưa thu hút và phổ biến đến với SV cũng làm tăng nguy cơ bỏ học61. Trong nghiên cứu của mình, tác giả Phan Đức Thuấn 53 nhận định rằng SV có khả năng bỏ học do thiếu sự quan tâm của thầy cô và nhà trường, ít có sự phối hợp trong công tác quản lý SV hay chương trình đào tạo chậm đổi mới. Nhận định này cũng được chia sẻ trong nhiều báo cáo hoặc nghiên cứu khác54, 62, 63. Một số yếu tố khác trong môi trường sư phạm cũng được nhắc đến có ảnh hưởng đến vấn đề bỏ học của SV, như môn học thiếu tính ứng dụng và ý nghĩa; thiếu khách quan trong đánh giá kết quả; thiếu kết nối với SV trong quá trình giảng dạy 59. Theo Ngô Quang Hải và cộng sự48, sự thành công hay thất bại của một chương trình học/khóa học có ảnh hưởng đến ý định bỏ học của SV. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nếu chương trình học chưa thực sự tốt, chưa đảm bảo tối ưu cho người học, khả năng bỏ học của SV sẽ tăng cao. Chương trình học còn mang nặng tính lý thuyết, thiếu thực hành gây cảm giác chán nản cho SV, từ đó khả năng bỏ học tăng cao46, 52, 60. Mặt khác, việc sắp xếp lịch học, thời gian biểu không khoa học và hợp lý cũng có thể gây ảnh hưởng cho SV sắp xếp cuộc sống và các hoạt động ngoài học đường của họ. Theo báo cáo của British Council61, thời khóa biểu, lịch học là một rào cản đối với những người trẻ vừa đi học, vừa đi làm công việc bán thời gian, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Nghiên cứu của Huỳnh Linh Lan50 cho biết SV nghỉ học do lịch học quá dày và thời gian học chưa linh hoạt. Một số nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của việc hỗ trợ, khuyến khích SV học tập có ảnh hưởng đến quyết định học tiếp hay dừng lại của họ. SV nhận được sự hỗ trợ tốt về dịch vụ học tập như sử dụng trang web trường để xem thông báo, truy cập điểm, xem bài giảng khiến họ hứng thú hơn với học tập và làm giảm khả năng bỏ học [50]. Thể chế giáo dục bao gồm sự hỗ trợ về tài chính, hỗ trợ học thuật của nhà trường dành cho SV có hoàn cảnh khó khăn có thể ảnh hưởng đến khả năng bỏ học của SV 53, 54.

Nhìn chung, các nhóm yếu tố liên quan đến nhà trường bao gồm sự quản lý của các bộ phận chức năng trong nhà trường; sự quan tâm hỗ trợ sinh viên từ nhà trường, từ giáo viên bộ môn, cố vấn học tập; chương trình đào tạo là những yếu tố có tác động đến khả năng bỏ học của SV hiện nay.

Yếu tố gia đình

Yếu tố gia đình có vai trò quan trọng trong dự báo khả năng bỏ học của SV55. Yếu tố này có liên quan đến quy mô, cấu trúc gia đình, tầng lớp xã hội và trình độ học vấn của cha mẹ. Các yếu tố này có ảnh hưởng đến nhận thức của gia đình về mục đích học tập, phương pháp giáo dục của cha mẹ, hoàn cảnh sống, nề nếp gia đình. Quy mô gia đình có ảnh hưởng đến hành vi của đứa trẻ; SV lớn lên trong gia đình chỉ có một con nên mọi sự quan tâm lo lắng của cha mẹ đều đổ dồn hết vào đứa con của mình, vô tình gây nên sự ích kỷ, cố chấp và thiếu quyết đoán ở đứa con 46.

Trong nghiên cứu tại Trường Đại học Cần Thơ, tài chính gia đình SV năm nhất được cho là có ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý và kết quả học tập của nhóm này, do SV phải chia sẻ thời gian học cho việc đi làm thêm 59. SV chủ yếu sống xa nhà, gặp khó khăn về mặt tài chính khiến họ phải thực hiện nhiều cách thức ứng phó để đảm bảo cho cuộc sống của bản thân55. Theo các tác giả này, khi SV cân bằng được thời gian đầu tư cho việc học và công việc làm thêm ổn định, khả năng bỏ học của họ sẽ giảm. Trong báo cáo của British Council (2020), các tác giả đưa ra nhận định rằng nghĩa vụ với gia đình là một yếu tố dẫn đến việc bỏ học ở người trẻ, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Khi điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, người trẻ tuổi phải vừa học vừa làm, một số trường hợp vì nhu cầu ổn định tài chính quá lớn nên ưu tiên việc làm hơn việc học53.

Tóm lại, từ việc tổng hợp các nghiên cứu đi trước về thực trạng bỏ học của SV Việt Nam, có 03 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến khả năng bỏ học, đó là: (1) yếu tố cá nhân (động lực học tập, việc làm - tài chính; năng lực học tập, nhân khẩu học); (2) yếu tố nhà trường (quản lý sinh viên, quan tâm và hỗ trợ sinh viên, chương trình đào tạo); (3) yếu tố gia đình (ủng hộ và quan tâm con cái; quy mô cấu trúc gia đình; học vấn của bố mẹ, phương pháp nuôi dạy con).

Table 2

Các nghiên cứu về vấn đề bỏ học ở sinh viên tại Việt Nam

STT

Tên đề tài

Tên tác giả (Năm xuất bản)

Địa bàn NC

Phương pháp NC

Quy mô mẫu (Sinh viên)

Tỷ lệ bỏ học/ định chỉ học tập

Nguyên nhân

Các yếu tố ảnh hưởng

1

Biện pháp quản lý nhằm khắp phục tình trạng bỏ học của SV trường Đại học Hùng Vương TP.HCM

Phan Đức Thuấn (2013)53

TP.HCM

Định lượng

2500

18-22%

Nguyên nhân khách quan: - Thiếu sự quan tâm của thầy cô và nhà trường; Chất lượng tuyển sinh đầu vào thấp; Môi trường giáo dục thiếu thân thiện; Ít có sự phối hợp trong công tác quản lý SV; Chương trình đào tạo chậm đổi mới; Thiếu sự quan tâm của gia đình; Khó khăn về nơi ở và sinh hoạt; Chi phí cho QT đào tạo cao; Thiếu chính sách giúp đỡ việc làm và tài chính cho SV

- Nguyên nhân chủ quan: Tư duy SV thấp, hổng kiến thức từ các lớp dưới, nhận thức kém; Thiếu sự cố gắng, nỗ lực của bản thân khi sống xa nhà, thiếu sự quan tâm của gia đình; Phát triển sớm các quan hệ yêu đương tình ái và những hệ lụy; Nợ quá nhiều môn; Khó khăn về tiền bạc; Kết quả học tập kém, không theo kịp môi trường đại học

- Yếu tố nhà trường (quản lý, hỗ trợ SV);

- Yếu tố gia đình (quan tâm, ủng hộ, hỗ trợ việc học cho con);

- Yếu tố cá nhân của SV (năng lực, tài chính, khu vực sinh sống, tình cảm)

2

Tại sao SV từ xa Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh bỏ học?

Lê Thị Thanh Thu (2014) 52

Thành phố Hồ Chí Minh

Định lượng

568

57,5%

---

Thời gian học; Sức khỏe cá nhân và gia đình; khoảng cách địa lý; Chất lượng đào tạo; Học phí; Động lực học tập; Năng lực bản thân.

3

Một số giải pháp giảm tỉ lệ học sinh, SV bỏ học tại các cơ sở giáo dục nghề

Trịnh Thị Việt Hồng, Lê Huy Tùng (2016)46

Thanh Hóa

Định lượng

12.533

6,65%

Xác định chưa đúng động cơ học tập (để tránh nghĩa vụ quân sự, gia đình bắt đi học, học cho bằng bạn bè;

Lựa chọn ngành nghề đầu vào chưa phù hợp với bản thân và gia đình, chuyển ngành, chuyển trường hoặc nghỉ học;

SV đi làm thêm để học hỏi kinh nghiệm thực tiễn, có thêm thu nhập để chi tiêu và đỡ dần cho gia đình;

Yếu tố nhà trường: Cơ sở vật chất; Chương trình học; Sự quan tâm từ GV;

Yếu tố gia đình: Nhận thức hạn chế về mục đích học tập, trình độ giáo dục, phương pháp giáo dục của cha mẹ hoàn cảnh sống, quy mô và nề nếp gia đình;

Yếu tố bản thân: áp lực môi trường, thầy cô, bạn bè, gia đình. Nhu cầu tài chính; tâm lý chán nản. Kết quả học tập.

4

A self-determination theory based motivational model on intentions to drop out of vocational schools in Vietnam

Bùi Thị Thúy Hằng và cs (2017)60

Hà Nội

Định lượng

277

---

---

- Động lực của SV

- Sự hỗ trợ của giáo viên, sự hỗ trợ tự chủ trong học thuật, nhận thức về năng lực và thành thích của trường.

5

Các yếu tố tâm lý xã hội ảnh hưởng đến nguy cơ bỏ học của SV trường Đại học Thăng Long

Trần Hoàng Thị Diễm Ngọc, Hồ Xuân Ngọc (2019)47

Hà Nội

Định lượng

475

23,5%

Chương trình học nặng; SV có nhiều cơ hội nghề nghiệp khác; không nhìn thấy tương lai trong việc học; không theo kịp chương trình học

Quản lý SV; sự tương tác ở lớp học; thông tin về chương trình học; hoàn cảnh gia đình; Yếu tố tâm lý cá nhân.

6

Báo cáo Các giải pháp nhằm giảm tỷ lệ SV bỏ học trường Cao Đẳng Kinh tế Kỹ Thuật Kiên Giang

Trường Cao Đẳng Kinh tế Kỹ Thuật Kiên Giang63

Kiên Giang

5,4%

---

- Động cơ học tập của SV;

- Công tác giáo viên chủ nhiệm là một vấn đề đáng lo ngại;

- Công tác quản lý SV và chương trình đào, cơ sở vật chất phục vụ học tập.

7

Báo cáo nghiên cứu Thế hệ trẻ Việt Nam

British Council

-2020

55

định lượng + Định tính

1200

---

- Chi phí cho cả học chính khóa và học thêm tốn kém;

- Thực hiện ghĩa vụ gia đình;

- Ưu đi làm hơn để ổn định tài chính;

- Thời khóa biểu, lịch học (nông thôn).

- Tài chính (công việc làm, chi phí học tập);

- Trách nhiệm với gia đình;

- Thời gian dành cho học tập.

8

Ứng dụng công cụ quản trị chất lượng nhằm giảm tình trạng SV bỏ học tại khoa đào tạo quốc tế, đại học Duy Tân

Huỳnh Linh Lan

-2020

50

Đà Nẵng

---

---

Ngành An ninh mạng CMU 20%

Khâu quản lý công tác học tập đối với SV trong trường: Chia sẻ thông tin điểm thi xét tuyển, chất lượng bài giảng, chưa tìm ra nguyên nhân dự báo về tỉ lệ SV sẽ bỏ học tiếp theo; hệ thống học tập trực tuyến chưa liên kết tốt; kiểm soát SV theo điểm số chưa tốt.

Môi trường học tập; Chương trình học; Thời gian học tập và làm việc; Khả năng nhận thức của bản thân; Lựa chọn hình thức học tập; Định hướng học tập; Yếu tố hoàn cảnh gia đình; học phí, bố mẹ.

9

Phân tích các nguyên nhân SV nghỉ học tại trường Đại học Phan Thiết

Đinh Bá Hùng Anh, Nguyễn Thị Thanh Diễm, Võ Thị An Nhi

-2021

51

Phan Thiết

Định lượng

226

11,2%

--

Kết quả học tập; Quá trình lên lớp; Phương pháp giảng dạy của GV; Các môn chuyên ngành thực tế; Đặc điểm thế chế giáo dục; Chính sách hỗ trợ SV khó khăn; Nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục; Nhân tố môi trường xã hội (gia đình, bạn bè, hỗ trợ việc làm); Nhân tố động lực học tập.

10

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học đường của SV chính quy chưa tốt nghiệp đúng hạn và giải pháp khắc phục

Nguyễn Văn Tường (2021)

54

TP.HCM

Định lượng

307

70% SV chưa tốt nghiệp

Chưa đạt yêu cầu về ngoại ngữ không chuyên.

Phong cách học đường, niềm tin vào năng lực bản thân, năng lực tự học, sự quan tâm của cha mẹ, vai trò của giảng viên.

11

Dự báo khả năng bỏ học của SV: Áp dụng mô hình hồi quy Binary Logistic

Vũ Sơn Tùng, Trần Thanh Phong

-2022

61

Long An

Định lượng

250

10,8%

---

Thời gian học; Thay đổi công việc; Khối lượng chương trình học; Gia đình; Hỗ trợ về dịch vụ học tập.

12

Các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định nghỉ học của SV - từ tổng quan lý thuyết tới mô hình thực nghiệm

Nguyễn Thiều Tuấn Long (2022)

56

Việt Nam

Định tính

--

--

--

Động lực cá nhân; Tài chính, nghề nghiệp, cấu trúc gia đình, học vấn của bố mẹ; Sự cam kết học tập; Năng lực người dạy, lắng nghe phản hồi, hướng dẫn hỗ trợ; Chương trình và tài nguyên học tập; Cơ hội việc làm, phát triển mạng lưới, tính cạnh tranh; Giới tính, độ tuổi, nơi sinh, dân tộc, tôn giáo, điểm GPA, hạnh kiểm.

13

The Student Stress At Vietnamese Universities: A Cross- Sectional Study

Quan Hoang Nguyen Tran (2022)

57

Miền Trung & Miền Nam

Định lượng

175

--

--

Giới tính; Trình độ học vấn; Năm học.

14

A University Student Dropout Detector

Based on Academic Data – A case study at

Ngô Quang Hải và cs (2023)48

Hà Nội

Định lượng

21429 (GĐ1)

7836 (GĐ2)

5% mỗi giai đoạn

--

- Các môn học thuộc về kỹ năng mềm;

- Sự thành công của khóa học;

- Điểm số.

15

Tại sao sinh viên từ xa trường Đại học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh bỏ học?

Lê Thị Thanh Thu

52

TP.HCM

Định tính

(phỏng vấn điện thoại)

568

Ngành Xây dựng có tỷ lệ bỏ học cao nhất chiếm 57,5%, kế toán 41,3%

15,9% lý do bên trong: không hài lòng với chương trình đào tạo, thiếu động lực và quan tâm đến học từ xa, năng lực không đáp ứng yêu cầu học tập.

84.1% lý do bên ngoài: không có thời gian, chuyển trường, vấn đề gia đình, địa điểm học xa, học phí cao và thiếu thông tin về lịch học.

Yếu tố nội tại (thuộc về cá nhân) và ngoại tại (trường học, gia đình, bối cảnh sống, quản lý đào tạo).

KẾT LUẬN

Bài báo trình bày kết quả tổng quan thực trạng bỏ học và các yếu tố ảnh hưởng đến bỏ học ở SV trên thế giới và ở Việt Nam. Tỷ lệ SV bỏ học dao động trong khoảng 20% SV toàn khóa hoặc trường. Hiện tượng này được ghi nhận đặc biệt phổ biến ở nhóm SV nam và SV theo học năm đầu tiên. Tình trạng bỏ học có xu hướng giảm dần ở các năm học tiếp theo. Tỷ lệ bỏ học có mối liên hệ với chương trình giảng dạy và điểm trung bình học tập của SV ở năm đầu tiên.

Đối sánh các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy một số tương đồng về các lý do dẫn đến bỏ học: Thứ nhất, nhóm yếu tố mang tính cá nhân như động cơ học tập, lựa chọn ngành không yêu thích, thiếu mục tiêu học tập, mức độ tham gia các hoạt động học tập thấp, khả năng hòa nhập xã hội ở sinh viên ở trường đại học hạn chế, kết quả học tập ở cấp học phổ thông và năm đầu đại học giới hạn, khó khăn học tập, thiếu kỷ luật học tập, quản lý thời gian kém, gặp các vấn đề sức khỏe thể chất và tinh thần, rạn nứt trong mối quan hệ tình cảm; Thứ hai, nhóm yếu tố liên quan đến thể chế trường học như độ khó của môn học, yêu cầu cao từ giảng viên, các vấn đề về việc truyền đạt kiến thức ở người dạy, các thay đổi về chính sách học phí; Thứ ba, nhóm yếu tố liên quan đến gia đình như thu nhập gia đình thấp, áp lực kinh tế, trình độ học vấn của cha mẹ. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên thế giới đề cập đa dạng các yếu tố ảnh hưởng hơn, chẳng hạn giới tính, tuổi SV bắt đầu đi học, thiếu kinh nghiệm trước khi đi học đại học và địa vị xã hội của cha mẹ, các giá trị, kỳ vọng của cha mẹ; các nghiên cứu này cũng nhấn mạnh hơn các yếu tố tâm lý như nhớ nhà, trầm cảm, cô đơn. Các nghiên cứu tại Việt Nam đề cập một số lý do khác dẫn đến bỏ học như: ít sự phối hợp trong quản lý sinh viên, chương trình học dày đặc, nặng tính học thuật, không có nhiều đổi mới, chất lượng giảng viên kém, ngành học thiếu định hướng nghề nghiệp, các thách thức trong việc đáp ứng yêu cầu ngoại ngữ. Tổng quan tài liệu cho thấy có nhiều nguyên nhân đan xen lý giải việc bỏ học ở SV đại học chứ không chỉ có một vài nguyên nhân đơn lẻ. Một số tác giả trên thế giới khuyến nghị các vấn đề liên quan đến khía cạnh tâm lý xã hội, chẳng hạn vấn đề sức khỏe tinh thần, khả năng hòa nhập học thuật và xã hội phát sinh trong môi trường học đường ảnh hưởng đến việc bỏ học cần được quan tâm hơn vấn đề tài chính.

Các lý thuyết về “Giữ chân/Bỏ học” của Tinto, lý thuyết vị trí xã hội của Boudon và lý thuyết hòa nhập học thuật và xã hội của Bean được sử dụng trong các nghiên cứu ở trên thế giới để lý giải về hành vi bỏ học; tuy nhiên, tại Việt Nam, còn hiếm có nghiên cứu đề xuất mô hình lý thuyết để lý giải về hành vi bỏ học ở sinh viên đại học. Do đó, nghiên cứu này góp phần hệ thống hóa các chiều kích đa dạng về các yếu tố ảnh hưởng đến bỏ học để các nghiên cứu về sau xây dựng khung lý thuyết lý giải về hành vi bỏ học ở sinh viên tại Việt Nam.

Phần lớn các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về chủ đề này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, do đó, nhóm tác giả đề xuất các nghiên cứu về sau có thể sử dụng phương pháp định tính để tìm hiểu sâu hơn nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến bỏ học ở sinh viên để từ đó đề xuất các giải pháp phòng ngừa vấn đề bỏ học. Các nhà quản lý giáo dục cũng cần xem xét nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc bỏ học tương thích với đặc thù đào tạo của mỗi trường để hỗ trợ người học gắn kết và hoàn thành chương trình đào tạo đại học.

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, mã số T2023-12.

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

SV: sinh viên

TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

cs: cộng sự

ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

NC: nghiên cứu

XUNG ĐỘT LỢI ÍCH

Bản thảo này không có xung đột lợi ích

ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ

Lê Thị Mai Liên: Sưu tầm tư liệu, đọc, tổng hợp, xây dựng ý tưởng, viết bản thảo.

Trần Thị Anh Thư: Sưu tầm tư liệu, tổng hợp, trực quan bảng dữ liệu, chỉnh sửa bản thảo.

Trần Anh Tiến: Xây dựng ý tưởng, giám sát, chỉnh sửa bản thảo.

References

  1. . Vũ Mộng Đóa. Những yếu tố tác động đến thất bại học đường của học sinh. Tạp chí Giáo dục. Số đặc biệt tháng 7/2019; 2009. p.151-156. :
  2. . Delors J. Learning : the treasure within : report to UNESCO of the International Commission on Education for the Twenty-first Century (2nd (pocketbook) ed. ed.). Unesco; 1998. :
  3. . Belloc F, Maruotti A, & Petrella L. University drop-out: An Italian experience. Higher education. 60. ; 2010. p. 127-138. :
  4. . Araque F, Roldán C & Salguero A. Factors influencing university drop out rates. Computers & Education. 53(3); 2009. p. 563-574. :
  5. . Heublein U. Student drop‐out from German higher education institutions. European Journal of Education. 49(4); 2014. p. 497-513. :
  6. . Mihai DR. Students' failure in academic environment. Procedia-Social and Behavioral Sciences. 114; 2014. p. 170-177. :
  7. . Hovdhaugen E. Transfer and dropout: different forms of student departure in Norway. Studies in Higher Education. 34(1); 2009. p.1-17. :
  8. . Guimarães J, Sampaion B & Sampaino Y . What is behind university dropout decision in Brazil? A bivariate probability model. The Empirical Economics Letters. 9(1); 2010. p. 601-608. :
  9. . Sittichai R, Tongkumchum P, & McNeil N. Discontinuation among university students in Pattani. Journal of Songklanakarin. 14; 2008. p. 400-408. :
  10. . Tentshol K, McNeil R & Tongkumchum P . Determinants of university dropout: A case of Thailand. Asian Social Science. 15(7); 2019. p. 49-56. :
  11. . Mestan K. Why students drop out of the Bachelor of Arts. Higher Education Research & Development. 35(5); 2016. p. 983-996. :
  12. . Harvey A & Luckman M. Beyond demographics: Predicting student attrition within the Bachelor of Arts degree. The International Journal of the First Year in Higher Education. 5; 2014. :
  13. . Smith J P & Naylor RA. Dropping Out of University: A Statistical Analysis of the Probability of Withdrawal for UK University Students. Journal of the Royal Statistical Society Series A: Statistics in Society. 164(2); 2001. p. 389-405. :
  14. . Ngoma PS, Simwanza A & Makunka CK. Investigating the drop out problem amongst university extensión studies learners in Zambia. 2004 Paper presented at the Third Pan-Commonwealth Forum on Open Learning. :
  15. . Boddy C, Lonely. homesick and struggling: undergraduate students and intention to quit university. Quality Assurance in Education. 28(4); 2020. p. 239-253. :
  16. . Burt CD. Concentration and academic ability following transition to university: An investigation of the effects of homesickness. Journal of environmental psychology. 13(4); 1993. p. 333-342. :
  17. . Johnson LR & Sandhu DS. Isolation. adjustment. and acculturation issues of international students: Intervention strategies for counselors; 2007. :
  18. . Torres JB & Solberg VS. Role of self-efficacy. stress. social integration. and family support in Latino college student persistence and health. Journal of vocational behavior. 59(1); 2001. p. 53-63. :
  19. . Thurber CA & Walton EA. Homesickness and Adjustment in University Students. Journal of American College Health. 60(5); 2012 .p. 415-419. :
  20. . Stroebe M, Van VT, Hewstone M & Willis H. Homesickness among students in two cultures: Antecedents and consequences. British Journal of Psychology. 93(2). 2002 . p.147-168. :
  21. . Lockhart P. An Investigation into the causes of Student Drop Out Behaviour; 2004. :
  22. . Macgregor K. South Africa: Student drop-out rates alarming. University world news. 28; 2007. :
  23. . Cingano F & Cipollone P. University drop-out: The case of Italy: Banca d'Italia Roma; 2007 . :
  24. . Davies R & Elias P. Dropping out: A study of early leavers from higher education: DfES Publications; 2003. :
  25. . Duque LC, Duque JC & Suriñach J. Learning outcomes and dropout intentions: an analytical model for Spanish universities. Educational studies. 39(3); 2003 2013 . p. 261-284. :
  26. . Yorke M & Longden B. The first-year experience of higher education in the UK. In: York: Higher Education Academy, 2008. :
  27. . Sá F. The effect of tuition fees on university applications and attendance: Evidence from the UK. Institute for the Study of Labor(8364); 2014. :
  28. . Sá F. The Effect of University Fees on Applications. Attendance and Course Choice: Evidence from a Natural Experiment in the UK. Economica. 86(343); 2019 . p. 607-634. :
  29. . Chevalier A. Subject choice and earnings of UK graduates. Economics of Education Review. 30(6); 2011 . p. 1187-1201. :
  30. . Tinto V. Dropout from higher education: A theoretical synthesis of recent research. Review of educational research. 45(1). 1975 . p. 89-125. :
  31. . Engstrom C & Tinto V. Learning better together: The impact of learning communities on the persistence of low-income students. Opportunity Matters. 1(1); 2008 . p. 5-21. :
  32. . Tinto V. Stages of student departure: Reflections on the longitudinal character of student leaving. The journal of higher education. 59(4); 1988 . p. 438-455. :
  33. . Lassibille G & Navarro Gómez L. Why do higher education students drop out? Evidence from Spain. Education Economics. 16(1); 2008 . p. 89-105. :
  34. . Bean J P. The application of a model of turnover in work organizations to the student attrition process. The review of higher education. 6(2); 1983 . p. 129-148. :
  35. . Chies L, Graziosi G & Pauli F. Job opportunities and academic dropout: The case of the University of Trieste. Procedia Economics and Finance. 17. 2014 . p. 63-70. :
  36. . Yi H, Zhang L, Yao Y, Wang A, Ma Y, Shi Y.. . . . Rozelle S. Exploring the dropout rates and causes of dropout in upper-secondary technical and vocational education and training (TVET) schools in China. International Journal of Educational Development. 42; 2015 . p. 115-123. :
  37. . Synco TM. Background or experience? Using logistic regression to predict college retention: The University of Alabama at Birmingham; 2012. :
  38. . Mashburn AJ. A psychological process of college student dropout. Journal of College Student Retention: Research. Theory and Practice. 2(3); 2000 . p. 173-190. :
  39. . Aparicio-Chueca P, Domínguez-Amorós M & Maestro-Yarza I. Beyond university dropout. An approach to university transfer. Studies in Higher Education. 46(3); 2001 . p. 473-484. :
  40. . Boudon R. Education. opportunity. and social inequality: Changing prospects in western society; 1974. :
  41. . Bourdieu P. Distinction: A Social Critique of the Judgment of Taste. . London: Routledge & Kegan Paul; 1984. :
  42. . Bourdieu P & Passeron JC. Reproduction in education. society and culture (Vol. 4). London: Sage; 1977. :
  43. . Hansen MN. Social and economic inequality in the educational career: Do the effects of social background characteristics decline? European sociological review. 13(3). ; 1997 . p. 305-321. :
  44. . Paura L & Arhipova I. Cause Analysis of Students' Dropout Rate in Higher Education Study Program. Procedia - Social and Behavioral Sciences. 109; 2014 . p. 1282-1286. :
  45. . Lucio R, Hunt E & Bornovalova M. Identifying the necessary and sufficient number of risk factors for predicting academic failure. Developmental psychology. 48(2); 2012 . p. 422-428. :
  46. . Trịnh Thị Việt Hồng và Lê Huy Tùng. Một số giải pháp giảm tỉ lệ học sinh. sinh viên bỏ học tại các cơ sở giáo dục nghề. Tạp chí Khoa học Giáo dục. (128); 2016. :
  47. . Trần Hoàng Thị Diễm Ngọc và Hồ Xuân Ngọc. Các yếu tố tâm lý xã hội ảnh hưởng đến nguy cơ bỏ học của sinh viên trường Đại học Thăng Long. Tạp chí Tâm lý học. 247(10); 2019. :
  48. . Ngo Quang Hai, Nguyen Hoang Giang và Trinh Nhat Minh. A University Student Dropout Detector Based on Academic Data - A case study at FPT University. Graduation Thesis Final Report FPT University; 2023. :
  49. . Báo Lao Động. Sinh viên bỏ học ngày càng nhiều: Vì chọn không đúng ngành. ham đi làm. Báo điện tử Lao Động; 2019. :
  50. . Huỳnh Linh Lan. Ứng dụng công cụ quản trị chất lượng nhằm giảm tình trạng sinh viên bỏ học tại Khoa Đào tạo Quốc tế. Đại học Duy Tân. Tạp chí Công Thương. (5); 2020 . p. 214-219. :
  51. . Đinh Bá Hùng Anh, Nguyễn Thị Thanh Diễm và Võ Thị An Nhi. Phân tích nguyên nhân sinh viên bỏ học tại trường Đại học Phan Thiết. Tạp chí Công Thương. (16). 2021 . p. 170-174. :
  52. . Lê Thị Thanh Thu. Tại sao sinh viên từ xa trường Đại học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh bỏ học?. Tạp chí Khoa học trường Đại học Mở TP.HCM. 34(1); 2014 . p. 87-92. :
  53. . Phan Đức Thuấn. Biện pháp Quản lý nhằm khắc phục tình trạng bỏ học của sinh viên trường Đại học Hùng Vương Thành Phố Hồ Chí Minh. Luận văn Thạc sỹ Quản lý Giáo dục. Học viện Chính trị; 2013. :
  54. . Nguyễn Văn Tường. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học đường của sinh viên chính quy chưa tốt nghiệp đúng hạn và giải pháp khắc phục (Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Báo cáo tổng hợp kết quả nhiệm vụ NCKH và CN. chương trình Vườn ươm 2021. :
  55. . Vũ Sơn Tùng và Trần Thanh Phong. Dự báo khả năng bỏ học của sinh viên: Áp dụng mô hình hồi quy Binary Logistic. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing. (68). :
  56. . Nguyễn Thiều Tuấn Long. Các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định nghỉ học của sinh viên - Từ tổng quan lý thuyết tới mô hình thực nghiệm. Tạp chí Khoa học và Công nghệ. Trường Đại học Khoa học. Đại học Huế. 21(3); 2022. :
  57. . Nguyen Tran Quan Hoang. The Student Stress At Vietnamese Universities: A Cross- Sectional Study. Journal of Positive School Psychology. 6(9); 2022 . p. 2906-2915. :
  58. . Võ Văn Việt. Đo lường sự thích ứng của sinh viên năm nhất với môi trường đại học: Một nghiên cứu tại Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Nghiên cứu Giáo dục; 2023. :
  59. . Trương Thị Ngọc Điệp và cộng sự. Thuận lợi và khó khăn trong học tập của sinh viên năm nhất tại Trường Đại học Cần thơ. Tạp Chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ; 2012. :
  60. . Bùi Thị Thúy Hằng và cộng sự. A self-determination theory based motivational model on intentions to drop out of vocational schools in Vietnam. Malaysian Journal of Learning and Instruction: Vol. 14 No. 1 (2017): 1-21 . :
  61. . British Council. Báo cáo Nghiên cứu Thế hệ trẻ Việt Nam; 2020. :
  62. . Bui Thi Thuy Hang. Amrita và Abdul Hamid Busthami Nur. . A self-determination theory based motivational model on intentions to drop out of vocational schools in Vietnam. Malaysian Journal of Learning and Instruction. 14(1). 2017 . p. 1-21. :
  63. . Trường Cao Đẳng Kinh tế Kỹ thuật Kiên Giang. Báo cáo Các giải pháp nhằm giảm tỷ lệ sinh viên bỏ học trường Cao Đẳng Kinh tế Kỹ Thuật Kiên Giang. Sáng kiến kinh nghiệm. https://sangkienkinhnghiem.com/bao-cao-giai-phap-cac-giai-phap-nham-giam-ty-le-sinh-vien-bo-hoc-106/ ; 2019. :

Comments