The use local people as officials of Southern Administrations in the early period of Nguyen Dynasty (1802-1832)
- University of Social Sciences & Humanities, VNU-HCM
Abstract
Southern Vietnam is the central region of the Nguyen Dynasty. It occupies an important position in national defense and foreign affairs. The region has had the huge economic potential and can create a breakthrough for Vietnam's economic development up to now. However, due to the historical conditions and geographical location, political upheaval was tremendously popular during the period of the Nguyen Lords and early Nguyen Dynasty. Besides, the economic factors of international trade and the development of commodity production (specific social foundations) were high above the national standard. As a result, the central government had to use a special method of selecting and using local officials/mandarins. The officials selected must have been good in ``handling the statecraft'', who could understand and have/had a process of living and working in the South. As two eminent political kings, Gia Long and Minh Mang applied flexible measures, not taking the aristocratic nature of candidates very seriously. Both kings completely removed the ``hereditary'' regime, not following the Confucian model as in the North and the Central regions in selecting and using mandarins in the local government apparatus. This policy helped the Nguyen Dynasty build a dedicated, competent service bureau in the region. The policy is an exception in the history of recruiting mandarins under the Confucian perspective in the country/Vietnam, and to a certain extent, it has successfully promoted local socio-economic development. This paper aims to argue that it is difficult to apply a unified but rigid policy in Vietnam on issues related to the locality and that Southern Vietnam always demands more special attention in state policies.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bất kỳ chế độ nhà nước nào và vào bất kỳ thời đại nào, để bộ máy nhà nước vận hành tốt, đều tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, nhưng yếu tố có tính quyết định luôn là con người - những người phục vụ trong bộ máy đó. Thực tiễn đã chứng minh, trong bất kỳ lĩnh vực nào, nếu người lãnh đạo không biết nhìn nhận, thu hút, trọng dụng nhân tài thì không thể sớm tạo ra được sự bứt phá. Bởi vậy, việc làm sao để có những chính sách thích hợp trong việc sử dụng nhân tài luôn là mối quan tâm của Nhà nước ở mọi thời đại. Hiện nay, chính sách sử dụng nhân tài tham gia trong bộ máy chính quyền các cấp của đất nước ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, song vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế. Ở nhiều địa phương, việc sử dụng nhân tài vẫn còn theo kiểu phong trào, cụ thể là địa phương nào cũng có chính sách “trải thảm đỏ” thu hút nhân tài, nhưng không thiết thực, hiệu quả, làm lãng phí nguồn chất xám của đất nước. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung làm sáng tỏ một số biện pháp mà vua Gia Long và Minh Mạng đã áp dụng trong việc sử dụng quan lại ở vùng đất Nam Bộ. Qua đó có thể tiếp thu được nhiều điều bổ ích trong việc “dụng hiền” của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Là vùng đất xuất hiện muộn nhất trên bản đồ Việt Nam, Nam Bộ có nhiều đặc điểm khác biệt so với các vùng đất khác trong cả nước. Tác giả Choi Byung Wook cho rằng, vùng đất Nam Bộ trong thời gian thống trị của các chúa Nguyễn “tồn tại như một vùng đất tách rời, với những bản sắc địa phương rõ rệt khác biệt với các vùng đất khác của Việt Nam” [1, tr. 79]. Về chính trị, là vùng biên cương phía Nam của Việt Nam, Nam Bộ thường xuyên có những bất ổn về chính trị như những cuộc xâm lược của Xiêm La (vào các năm 1833, 1834, 1841, 1845), sự bất ổn trong triều đình Chân Lạp (do nhà Nguyễn bảo hộ), cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi năm 1833,… Về văn hoá - xã hội, Nam Bộ là vùng đất đa dạng về văn hóa do là nơi hội tụ của nhiều thành phần dân tộc (người Việt, người Hoa, người Khmer, người Chăm, Mạ, Stieng); về sinh hoạt tín ngưỡng ở Nam Bộ, Trịnh Hoài Đức chép: “sùng Phật, tin đồng cốt, phần nhiều trọng thần đàn bà” [2, tr. 142]. Về kinh tế, với sự thuận lợi của điều kiện tự nhiên, cùng với những chính sách khẩn hoang tích cực của các chúa Nguyễn (về sau là các vua triều Nguyễn) và vai trò tích cực của người Hoa ở Nam Bộ, vùng đất này nhanh chóng trở thành một khu vực kinh tế năng động với sự khởi sắc của hoạt động thương mại. Trịnh Hoài Đức trong sách Gia Định thành thông chí đã miêu tả hoạt động kinh tế ở Nam Bộ: “hàng hoá bày bán trong các phố có: gấm, giấy, sứ, châu báu, sách, thuốc, trà… Những hoá vật ở đây theo đường sông, đường biển trở đến không thiếu món nào…” [2, tr. 410]. Những điều này đặt ra yêu cầu sử dụng quan lại ở Nam Bộ phải là những người có tài “kinh bang tế thế” và phải có quá trình gắn với vùng đất Nam Bộ để có thể thay vua giải quyết công việc. Mặc dù không đưa ra những tuyên bố rõ ràng về chính sách sử dụng quan lại riêng cho Nam Bộ, nhưng vua Gia Long và Minh Mạng đã có nhiều hình thức và phương pháp khác nhau nhằm “ưu tiên” cho Nam Bộ, nhằm hướng tới một mục tiêu xa hơn là đáp ứng nhu cầu về nhân sự cho việc thiết lập bộ máy chính quyền ở đây.
Nguồn tài liệu được sử dụng trong bài viết này có thể chia thành 3 loại: (1) tài liệu do triều Nguyễn biên soạn bao gồm: Đại Nam thực lục, Gia Định thành thông chí, Phủ biên tạp lục, Đại Nam chính biên liệt truyện,…đây là các bộ chính sử do các quan lại triều đình biên soạn trong thế kỷ XIX và thế kỷ XX ghi lại các hoạt động của triều Nguyễn, chứa đựng nhiều cứ liệu liên quan đến nghiên cứu này (2) những công trình nghiên cứu đã xuất bản của các nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài gắn với những trải nghiệm và quan sát về Nam Bộ; (3) những ghi chép, gia phả, di chúc của người dân Nam Bộ. Thông qua những nguồn tài liệu này, dựa vào phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp logic và phương pháp nghiên cứu liên ngành, bài viết bổ sung các phát hiện của các học giả đi trước bằng cách cho thấy một góc nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về biện pháp sử dụng người địa phương trong bộ máy chính quyền ở Nam Bộ của hai vị vua đầu triều Nguyễn, đồng thời đánh giá hiệu quả của biện pháp này thông qua những đóng góp của đội ngũ quan lại Nam Bộ trong việc khẩn hoang, phát triển kinh tế, ổn định chính trị của vùng đất Nam Bộ trong bối cảnh lịch sử đương thời cũng như những đánh giá của người dân Nam Bộ trong những giai đoạn sau.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Sử dụng “người địa phương” trong bộ máy chính quyền ở Nam Bộ
Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, triều đình rất chú trọng tới những người làm việc trong bộ máy nhà nước, trước hết là chế độ tuyển dụng, trọng dụng nhân tài. Người làm quan phải là người có tài “dựng nước lấy học làm đầu, cần trị lấy nhân làm gốc”, thành phần xuất thân phần lớn là hoàng thân, quốc thích “cha truyền con nối” [3, tr. 61,67]; đạo làm quan cốt ở hai điều “trên thì yêu vua, dưới thì yêu dân” 4. Một trong những biện pháp nhằm tránh kéo bè cánh, lạm quyền ức hiếp dân chúng, bảo đảm sự khách quantrong giải quyết công việc, triều đình phong kiến thường áp dụng biện pháp “hồi tỵ”
Trong quá trình khảo sát bộ sách Đại Nam chính biên liệt truyện, phần nguồn gốc quan lại chúng tôi nhận thấy chính sách “hồi tỵ” cũng được triều Nguyễn áp dụng ở khu vực miền Bắc ngay sau khi vương triều được thiết lập, còn ở Nam Bộ chính sách này dường như chưa được áp dụng ít nhất cho đến năm 1832 khi vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách hành chính. Trong khoảng thời gian từ khi nhà Nguyễn thành lập (1802) đến khi vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách hành chính (1832), việc bổ nhiệm quan lại - nhất là đội ngũ quan lại cao cấp tham gia vào bộ máy chính quyền ở Nam Bộ chủ yếu là những người quê quán ở Nam Bộ.
Năm 1802 sau khi triều Nguyễn được thành lập, để cai trị đất nước trên một cương vực rộng lớn mới được thống nhất, triều Nguyễn thiết lập một cơ chế hành chính đặc biệt. Ở Trung Kỳ (Trung Bộ)
Điều đáng chú ý là trong khi quê quán của cả 4 quan Tổng trấn Bắc thành đều không phải là người miền Bắc mà là từ miền Trung và Nam Bộ, cụ thể quê quán của 4 Tổng trấn Bắc thành lần lượt là Nguyễn Văn Thành ở Gia Định
Bên cạnh đội ngũ quan lại cao cấp là các Tổng trấn, phó Tổng trấn, Hiệp trấn là người Nam Bộ, thì còn rất nhiều các chức vụ quan trọng khác trong bộ máy chính quyền ở Nam Bộ cũng do những người có xuất thân từ Nam Bộ nắm giữ. Trong ghi chép của Đại Nam chính biên liệt truyện, phần bản quán của 392 nhân vật giữ những vị trí quan trọng trong chính quyền ở Nam Bộ dưới triều vua Gia Long cho thấy có 200/392 (51,01%) người quê quán ở Nam Bộ
Cũng cần nói thêm vì sao nhà Nguyễn trong 30 năm đầu (1802-1832) vẫn phải nỗ lực tìm kiếm người tài quê quán ở Nam Bộ để đưa vào bộ máy chính quyền ở đây, trong khi số lượng những người đã đỗ qua các kỳ thi ở miền Bắc còn rất lớn nhưng vẫn không được bổ dụng
Năm 1832 vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính trên cả nước, các Trấn thuộc Gia Định thành được tái cơ cấu lại thành 6 tỉnh
Những đóng góp của đội ngũ quan lại người Nam Bộ
Gia Long và Minh Mạng đã lấy yêu cầu của thực tiễn để đặt ra chính sách sử dụng quan lại ở Nam Bộ và ở chừng mực nào đó chính sách này đã có hiệu quả nhất định. Trong thực tế, một số Tổng trấn, Phó Tổng Trấn, Hiệp trấn Gia Định thành, Bố chánh… ở Nam Bộ đã đảm trách tốt nhiệm vụ, góp phần ổn định chính trị, xã hội, phát triển kinh tế của vùng đất Nam Bộ và được nhân dân cho đến ngày nay vẫn kính trọng, tôn thờ. Dù nhiều người trong số họ không được cung cấp kiến thức chuyên môn thuộc các lĩnh vực kinh tế, quân sự, hành chính,… nhưng khi đối mặt với thực tế họ đã đảm nhiệm được những nhiệm vụ hoàn toàn xa lạ với những gì được học qua Nho học. Họ vừa là các võ tướng, vừa là các văn quan, vừa làm chính trị, vừa là các nhà kinh tế, quân sự ngoại giao,.. tiêu biểu như:
Nguyễn Văn Nhơn - Tổng Trấn đầu tiên của Gia Định thành
Lê Văn Duyệt -Tổng trấn Gia Định thành hai lần
Đối với một số người dân Nam Bộ, hình ảnh Lê Văn Duyệt đã đi vào tâm thức như một vị thần, gọi đền thờ của Lê Văn Duyệt là Lăng Ông với tất cả lòng thành kính. Năm 1825 khi đến thăm Sài Gòn, Michel Đức Chaigneau đã nhận xét “Ông ta (Lê Văn Duyệt) là người rất tài năng cả trên chiến trường và trong lĩnh vực quản lý. Dân chúng sợ ông nhưng lại yêu mến ông thật lòng vì ông là người công bằng” [14, tr.18]. Lăng Lê Văn Duyệt trở thành điểm hoạt động tín ngưỡng, điểm đến tâm linh của người Sài Gòn - Gia Định và người dân các tỉnh Nam Bộ. Vào đêm Giao thừa, hoặc đến ngày giỗ (30/7 âm lịch), hàng vạn người khắp nơi trong cả nước, trong đó có rất nhiều người Hoa đến cúng bái. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng từng nhận định: “Lê Văn Duyệt có công, bằng chứng là nhân gian ngưỡng mộ và kính trọng ông,…Chúng ta đều biết ở Nam Bộ, trong khoảng thời gian dài và có lẽ cũng còn sót lại cho đến tận hôm nay một câu thề độc: ‘nếu tôi gian dối thì xin thề trước Lăng Ông tôi sẽ bị vặn họng như con gà tôi mang đến cúng Tả quân’,… chúng ta nhận thức rằng sự tôn trọng kia liên quan chủ yếu đến công lao của ông đối với vùng đất mà ông trấn nhậm” [15, tr. 261].
Nguyễn Huỳnh Đức-Tổng trấn Gia Định thành
Bên cạnh ba vị quan Tổng trấn của Gia Định thành, trong bộ máy chính quyền của nhà Nguyễn ở Nam Bộ còn có sự tham gia của đội ngũ quan lại gốc người Hoa ở Nam Bộ và người Khmer, tiêu biểu như: Trịnh Hoài Đức
Trong số những sĩ tử người Nam Bộ đỗ đạt qua các kỳ thi và tham gia vào bộ máy chính quyền ở Nam Bộ có nhiều đóng góp đối với vùng đất phía Nam, được nhân dân kính trọng và yêu mến, tiểu biểu như: Phan Thanh Giản
THẢO LUẬN
Kết quả nghiên cứu đã đóng góp thêm một mảng tư liệu về biện pháp sử dụng quan lại trong bộ máy chính quyền ở Nam Bộ của vua Gia Long và Minh Mạng cũng như những đóng góp của họ trong việc khẩn hoang, phát triển kinh tế, bảo đam an ninh chính trị của vùng đất phía Nam của tổ quốc trong bối cảnh lịch sử đương thời và những đánh giá của người dân Nam Bộ ngày nay thông qua các nghi lễ thời cúng- một vấn đề mà từ trước đến nay chưa có nhiều công trình đi sâu tìm hiểu. Trên cơ sở nội dung nghiên cứu đã giải quyết, chúng tôi cho rằng vẫn cần có thêm nhiều nguồn tư liệu hơn nữa để đi đến khẳng định có một chính sách riêng của vua Gia Long và Minh Mạng trong việc sử dụng quan lại ở Nam Bộ, nhưng những gì trình bày trong nghiên cứu này cho phép tạm đi đến nhận xét rằng Gia Long và Minh Mạng ít nhất đã có nhưng “ưu tiên” để thực hiện một chính sách như vậy thông qua những biện pháp và thực tế của việc triển khai những biện pháp đó ở Nam Bộ theo tinh thần “phương thức lập các chính sách, ắt cần phải tùy địa phương mà định quy chế”. Bên cạnh những mặt tích cực mà chúng tôi đã trình bày, biện pháp sử dụng quan lại ở Nam Bộ trong thời kỳ đầu triều Nguyễn cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, như: việc sử dụng “người địa phương” làm tăng thêm quyền lực của quan lại, tạo ra nguy cơ hình thành những thế lực cát cứ và trong thực tế nhiều trường hợp tham nhũng, chuyên quyền, ức hiếp nhân dân đã xảy ra trong một bộ phận quan lại Nam Bộ
KẾT LUẬN
Nhìn lại biện pháp sử dụng quan lại của Gia Long và Minh Mạng chúng tôi nhận thấy hai vị vua đầu triều Nguyễn đã có nhiều hình thức và biện pháp khác biệt trong việc tuyển chọn và sử dụng quan lại ở vùng đất Nam Bộ so với miền Bắc, miền Trung và so với truyền thống tuyển chọn và sử dụng quan lại của các triều đại phong kiến của Việt Nam trước đó. Trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX, đội ngũ quan lại ở Nam Bộ đã liên tục phát triển về cả số lượng lẫn chất lượng. Trong khoảng thời gian 28 năm (1813-1840), triều Nguyễn lấy đỗ tổng cộng 912 Cử nhân trong toàn quốc, trong đó có 94 Cử nhân là người Nam Bộ (chiếm 10,31%) [20, tr. 198]. Theo Cao Xuân Dục, trong suốt thời gian triều Nguyễn tồn tại 1802-1945, triều đình lấy đỗ tổng cộng 5.220 Cử nhân trong cả nước (trong đó có 274 cử nhân là người Nam Bộ)
DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐHQG: Đại học Quốc gia
TP.HCM: thành phố Hồ Chí Minh
NXB: Nhà xuất bản
KHXH: Khoa học Xã hội
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
Tác giả cam kết không có xung đột lợi ích liên quan đến nghiên cứu này.
ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ
Bài viết là sản phẩm nghiên cứu riêng của tác giả. Để thực hiện bài viết này, tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu, tài liệu nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, đồng thời tiến hành khảo sát thực địa để bổ sung thêm những cứ liệu. Trên cơ sở xử lý nhiều nguồn tài liệu, cũng như những phân tích, đánh giá, đóng góp chính của bài viết gồm hai khía cạnh. Thứ nhất, dù hầu hết các các học giả đều thừa nhận so với truyền thống cũng như so với miền Bắc, vua Gia Long và Minh Mạng có những “ưu tiên” trong việc sử dụng quan lại ở Nam Bộ, nhưng chưa có công trình nào đến nay trình bày chi tiết và giải thích đầy đủ tại sao lại có những “ưu tiên” đó. Bài viết này đã làm sáng tỏ vấn đề này. Thứ hai, nghiên cứu này làm rõ tác dụng của những chính sách mà vua Gia Long và Minh Mạng áp dụng trong việc sử dụng quan lại thông qua những đóng góp của họ trong việc khẩn hoang, phát triển kinh tế, ổn định tình hình chính trị của vùng đất Nam Bộ.