The research on commercial streets in Hanoi: characteristics and challenges in urban management
- Hanoi University of Science,Vietnam National University, Vietnam
- Hanoi University of Civil Engineering, Vietnam
Abstract
In many cities around the world, commercial streets are an important type of urban space, partly reflecting the urban face and vitality. In the development of Hanoi, commercial streets are an easily observable form. The study was carried out with the main goal of pointing out the role and characteristics of some typical commercial streets in Hanoi's development process, based on a set of indicators including 3 aspects and 10 criteria. The selected streets are Hang Bac, Kham Thien, Quan Nhan, and Van Quan, associated with the urban development process of Hanoi from the center to the periphery. The main research methods used include data collection and synthesis, investigation, field survey, Map Plus tool use and pre-designed description sheets, and sociological interviews with visitors to the above streets and residents about their perceptions of these streets. The research results show that commercial streets have their own characteristics, strengths, and weaknesses. Based on the research results, the study contributes a basis to proposing some recommendations for the management of the researched commercial streets. In addition, the study also expands recommendations for urban development management policies of Hanoi in particular and of Vietnamese cities in general, towards more sustainable and quality urban development for people.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đô thị có thể được coi như là một thực thể sống, được tạo nên bởi tất cả các khía cạnh về dân cư, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, và thay đổi liên tục theo hai trục không gian và thời gian. Trong quá trình hình thành các thực thể sống đó, hoạt động thương mại chiếm một vị trí quan trọng và nổi bật. Trong đó, tuyến phố thương mại là một loại hình không gian quan trọng của đô thị, là nơi diễn ra các hoạt động tương tác xã hội và cuộc sống công cộng của cư dân đô thị 1 gây nên tác động đến nhận thức cũng như cảm xúc của cư dân 2. Tuyến phố thương mại không chỉ mang chức năng phục vụ các hoạt động thương mại, mà còn là nơi du khách ngồi, nghỉ ngơi, trò chuyện, dạo phố 3. Những tuyến phố hấp dẫn sẽ thu hút khách đến, lôi kéo người dân đô thị ra khỏi nhà và hòa mình vào không gian xã hội, và bởi vậy sẽ góp phần quyết định hành vi của cư dân 1. Tuyến phố thương mại còn góp phần giúp chúng ta giảm sự phụ thuộc vào giao thông cơ giới, và bởi vậy nâng cao tính an toàn 4, hay thể hiện bản sắc của đô thị 2. Sức sống và tính sinh động của các tuyến phố thương mại được coi là có mối quan hệ chặt chẽ với năng lực quản lý, thiết kế và phát triển 5. Để phát huy được chức năng của các tuyến phố thương mại hiện đại, không gian đi bộ giữ vai trò rất quan trọng. Nhiều thành phố lớn trên thế giới đã và đang nỗ lực phục hồi, cải tạo và phát triển không gian đi bộ trên các tuyến phố, như Copenhaghen, Melbourne6. Trong đó, mật độ và loại cây xanh, kiến trúc tòa nhà, gia tăng diện tích quảng trường và không gian công cộng, cải tiến trang thiết bị đô thị như ghế ngồi, đá lát vỉa hè,… đều góp phần cải thiện chất lượng các tuyến phố thương mại.
Mặc dù trên thế giới đã có nhiều đề tài nghiên cứu về tuyến phố thương mại và có nhiều tính ứng dụng trong thực tiễn, nhưng ở Việt Nam, hướng đi này vẫn chưa thực sự được quan tâm. Một số ít công trình đã xuất bản nghiên cứu về tuyến phố thương mại như: Phố chuyên doanh ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Minh Hòa (2007); Xây dựng không gian phố cổ Gia Hội thành tuyến phố thương mại du lịch đặc trưng của thành phố Huế của Đặng Minh Nam (2021); Mô hình phố chuyên doanh: Ứng dụng trong phát triển thương mại tại thành phố Đà Nẵng của Võ Quang Trí (2016),… Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu các phố chuyên doanh, phố cổ thương mại du lịch,... mà chưa có nghiên cứu nào so sánh các đặc trưng giữa các tuyến phố thương mại trong đô thị. Để có thể nhận diện rõ hơn bộ mặt đô thị Hà Nội với các đặc trưng riêng của các tuyến phố thương mại trong quá trình phát triển, nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu này, nhằm cung cấp cơ sở thông tin quan trọng phục vụ công tác quản lý và quy hoạch đô thị, nâng cao chất lượng sống của dân cư đô thị. Đề tài được nghiên cứu tại 4 tuyến phố đại diện (Hàng Bạc, Khâm Thiên, Quan Nhân, Văn Quán) nằm ở 4 vị trí khác nhau, đại diện cho các không gian thương mại đô thị khác nhau của Hà Nội theo chiều dài phát triển từ lõi nội đô lịch sử ra đến vùng đô thị hóa mạnh mẽ ở khu vực ven đô.
BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TUYẾN PHỐ THƯƠNG MẠI
Việc nghiên cứu so sánh đặc trưng các tuyến phố thương mại cần thiết phải được đánh giá theo những tiêu chí nhất định, đồng nhất, bởi đây là cơ sở để thực hiện so sánh, phục vụ công tác quản lý, quy hoạch đô thị. Do đó, nhóm tác giả đã đề xuất bộ tiêu chí đánh giá dựa trên 3 khía cạnh chính: Đặc trưng nhận diện tuyến phố; Khả năng tiếp cận tuyến phố; Môi trường - cảnh quan tuyến phố (xem Table 1).
Bộ tiêu chí đánh giá tuyến phố thương mại
|
Mã |
Khía cạnh, tiêu chí |
Nguồn tài liệu tham khảo |
|
1. Đặc trưng nhận diện tuyến phố | ||
|
ĐT1 |
Sự đa dạng các mặt hàng thương mại |
N. M. Ghazi và cộng sự, 2019 |
|
ĐT2 |
Hoạt động thương mại theo loại hình |
N. M. Ghazi và cộng sự, 2019 |
|
ĐT3 |
Kiến trúc |
N. M. Ghazi và cộng sự, 2019 |
|
ĐT4 |
Địa điểm đặc trưng |
S. A. Mussab và cộng sự, 2018 |
|
ĐT5 |
Sự giãn nở của không gian thương mại |
S. D. Pham, 2022 |
|
2. Khả năng tiếp cận tuyến phố | ||
|
TC1 |
Giao thông tuyến phố |
N. M. Ghazi và cộng sự, 2019 |
|
TC2 |
Không gian đi bộ |
Ja’afar, N. H và cộng sự, 2012 |
|
3. Môi trường - cảnh quan tuyến phố | ||
|
CQ1 |
Vệ sinh môi trường (rác thải rắn, mùi) |
N. M. Ghazi và cộng sự, 2019 |
|
CQ2 |
Không gian xanh |
N. M. Ghazi và cộng sự, 2019 |
|
CQ3 |
Tính thẩm mỹ của không gian đi bộ |
Ja’afar, N. H và cộng sự, 2012 |
|
CQ4 |
Hàng rong |
N. M. Ghazi và cộng sự, 2019 |
Đối với khía cạnh Đặc trưng nhận diện tuyến phố: Khía cạnh này bao gồm 5 tiêu chí. Đồ ăn ngon, sự đa dạng mặt hàng, dịch vụ tốt, cửa hàng có chất lượng trên các tuyến phố3, 7 cũng là những yếu tố quyết định đến tính hấp dẫn của tuyến phố đối với người dân và du khách. Trong bộ tiêu chí đề xuất của nhóm tác giả, liên quan đến các yếu tố này, sự “đa dạng các loại hàng quán” được sử dụng để đánh giá tính đa dạng các mặt hàng thương mại trên các tuyến phố nghiên cứu. Ngoài ra, tiêu chí “mật độ hàng quán” được nhóm tác giả đưa vào đánh giá, nhằm xác định tính sôi động của tuyến phố đó. Mật độ hàng quán cao sẽ góp phần thu hút người dân và du khách, từ đó tạo nên tính sôi động cho tuyến phố, và ngược lại.
Các yếu tố văn hóa, kiến trúc đặc trưng mang lại những cảm giác về nơi chốn, bản sắc địa phương cho tuyến phố3, và bởi vậy nó sẽ lưu giữ cảm xúc của người dân và du khách, khiến nó được nhớ đến, được yêu thích. Để đánh giá các yếu tố này, nhóm tác giả sử dụng các tiêu chí về “kiến trúc đặc trưng” (thể hiện bởi màu sắc, khung hình, loại hình kiến trúc,...), “địa điểm đặc trưng”. “Địa điểm đặc trưng” bao gồm các di tích lịch sử, văn hóa điển hình, các trung tâm thương mại trên tuyến phố, vô tình trở thành điểm đến chìa khóa, dễ nhớ của tuyến phố đó. Người dân và du khách có thể đến thăm các điểm chìa khóa này trước, và rồi có hứng thú tiếp tục tham quan, mua sắm trên tuyến phố đó, nếu như tuyến phố đó có tính hấp dẫn. Những địa điểm đặc trưng còn có thể được sử dụng để xác định vị trí, đường đi dễ dàng hơn đối với tuyến phố, hoặc có khi góp phần thể hiện giá trị nghệ thuật của con phố 2.
Đối với khía cạnh Khả năng tiếp cận giao thông: Nhóm tác giả đề xuất tiêu chí Giao thông tuyến phố (TC1). Khả năng tiếp cận giao thông tốt là một trong những yếu tố quyết định nên những tuyến phố đáng sống, vì nó đảm bảo tính an toàn cho người dân 4. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sẽ nghiên cứu mật độ giao thông tại các khung giờ khác nhau trong ngày, với hai mục đích: nắm được thời gian giãn nở hoạt động thương mại bị trùng/ lệch với thời gian mật độ giao thông gia tăng; nắm được sự thay đổi lưu lượng phương tiện giao thông trong ngày của tuyến phố. Các con phố thương mại hầu như đều có khả năng tiếp cận dễ dàng, tuy nhiên vào thời điểm lưu lượng phương tiện giao thông đông đúc thì việc tiếp cận sẽ khó khăn hơn, đồng thời có thể gây giảm tính hấp dẫn trong những khung giờ cao điểm.
Đối với khía cạnh Môi trường - cảnh quan: Nhóm tác giả đề xuất 4 tiêu chí: Vệ sinh môi trường (CQ1), Không gian xanh (CQ2), Không gian vỉa hè (CQ3) và Hàng rong (CQ4). Vấn đề vệ sinh môi trường và không gian xanh là những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự hấp dẫn của tuyến phố, bởi chúng giúp cho người đi lại trên tuyến phố đó có cảm giác dễ chịu, thoải mái, và an toàn3, 7. Để thực hiện đánh giá tiêu chí vệ sinh môi trường, nhóm tác giả sẽ đánh giá tần suất xuất hiện rác thải rắn trên tuyến phố cùng mùi lạ phát sinh, gây khó chịu cho người dân và du khách trên tuyến phố đó. Đối với không gian xanh, nhóm tác giả đánh giá mật độ cây xanh tuyến phố. Mật độ cây xanh cao góp phần giảm thiểu ô nhiễm, điều hòa vi khí hậu và tạo cảnh quan cho tuyến phố.
Không gian vỉa hè vừa góp phần tạo cảnh quan tuyến phố, vừa là không gian quan trọng, có thể giúp cho người đi bộ dễ dàng dạo phố, tạo nên sự thuận tiện và thoải mái của người dùng đối với tuyến phố 2, 7, và đôi khi cũng có thể ngược lại nếu không gian vỉa hè bị lấn chiếm. Gánh hàng rong có thể coi là một trong những nét văn hóa truyền thống đặc trưng của nhiều nước Đông Nam Á. Có nhiều tranh cãi về sự xuất hiện của các gánh hàng rong trên các đường phố hiện đại ngày nay. Chúng có thể gây nên sự lộn xộn đối với tính thẩm mỹ của các tuyến phố thương mại, hay ảnh hưởng đến điều kiện vệ sinh môi trường. Nhưng có khi, chính các gánh hàng rong lại tạo nên sự hấp dẫn đối với du khách 3, bởi chúng góp phần thỏa mãn nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng 4.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp khảo sát thực địa là phương pháp truyền thống của khoa học địa lý, giúp cho việc đối chiếu, thu thập thông tin, kiểm tra kết quả nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực địa tại 4 tuyến phố Hàng Bạc, Khâm Thiên, Quan Nhân, Văn Quán vào các ngày chủ nhật (ngày 5/3/2023) và thứ ba (ngày 7/3/2023) đối với 3 khung giờ cố định như sau: từ 7h00-10h00, 11h00-13h00, 17h00-21h00, nhằm thực hiện quan sát các hoạt động buôn bán, hoạt động đi lại của người dân, sự giãn nở không gian thương mại,… Đây là cơ sở để chỉ ra đặc trưng các tuyến phố, độ giãn nở theo khung giờ của các tuyến phố nghiên cứu: phố Hàng Bạc; phố Khâm Thiên; phố Quan Nhân; phố Văn Quán. Đồng thời, nhóm tác giả đo đếm mặt hàng kinh doanh dịch vụ, cây xanh tuyến phố,…phục vụ cho việc mô phỏng lại các mặt hàng kinh doanh và mật độ cây xanh tại tuyến phố trên phần mềm AutoCad. Phương pháp khảo sát, thực địa được nhóm tác giả thực hiện với sự hỗ trợ của phần mềm MAP-PLUS, nhằm định vị và lưu giữ các vị trí ảnh chụp thực địa trên nền ảnh Google Earth 2023, ghi chú các thông tin của ảnh bằng điện thoại smartphone.
Phương pháp điều tra xã hội học
Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra xã hội học với bảng hỏi có cấu trúc được thiết kế sẵn, giới hạn số câu hỏi và thời gian phỏng vấn không quá dài. Đây là phương pháp để thu thập số liệu sơ cấp, mang lại hiệu quả cao vì trong quá trình thống kê có chọn lọc những số liệu cần thiết cho nghiên cứu đang thực hiện.
Thông tin về đặc trưng của tuyến phố thương mại qua 3 tiêu chí về đặc trưng nhận diện, khả năng tiếp cận và môi trường, cảnh quan tuyến phố được thu thập thông qua 8 ngày khảo sát thực địa (từ ngày 2/3/2023 đến ngày 9/3/2023), điều tra 20 phiếu đối với mỗi tuyến phố. Đồng thời, tác giả cũng tiến hành thiết lập phiếu online khảo sát trên mạng xã hội thu được 240 phiếu. Có 207 phiếu trên tổng số mẫu thu thập đạt được độ tin cậy cao và được đưa vào sử dụng chính thức, trong đó 41,6% người được khảo sát là nữ, 58,4% là nam.
Cụ thể hơn, phương pháp phỏng vấn được được sử dụng với bảng hỏi có cấu trúc chia 4 phần, bao gồm:
- Phần 1: Hỏi đáp về thông tin cơ bản của người tham gia phỏng vấn
- Phần 2: Thời gian, tần suất tiếp cận đến các tuyến phố nghiên cứu
- Phần 3: Đánh giá về các đặc trưng tuyến phố thương mại dựa trên 3 tiêu chí: Đặc trưng nhận diện, Khả năng tiếp cận, và Môi trường - cảnh quan
- Phần 4: Mong muốn của người dân đối với các tuyến phố thương mại
Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Sau khi khảo sát thực địa và thu thập dữ liệu sơ cấp, nhóm tác giả tiến hành thống kê và phân tích dữ liệu thu được nhằm tính toán mật độ cửa hàng, phân loại các mặt hàng kinh doanh, dịch vụ trên các tuyến phố; thống kê mức độ hài lòng của khách hàng về môi trường - cảnh quan, khả năng tiếp cận, khả năng sử dụng vỉa hè của các tuyến phố nghiên cứu từ phiếu điều tra xã hội học. Các số liệu được phân tích giúp cho các tác giả có thể so sánh giữa các tuyến phố thương mại khác nhau, chỉ ra đặc trưng của các tuyến phố.
KẾT QUẢ - THẢO LUẬN
Khái quát về 4 tuyến phố
Đề tài lựa chọn 4 tuyến phố điển hình cho 4 không gian đô thị đặc trưng của Hà Nội: phố Hàng Bạc (phố cổ), phố Khâm Thiên (khu vực vùng ven trung tâm đô thị), phố Quan Nhân (khu vực làng ven đô đã được đô thị hóa), phố Văn Quán (khu vực mới được đô thị hóa trong 10 năm trở lại đây). Các tuyến phố này đều có điểm chung là đều thuộc loại hình không gian thương mại nhà phố tại Hà Nội, với những đặc trưng và khác biệt riêng. Ngoài ra, các tuyến phố được lựa chọn này cũng nằm trên lát cắt đô thị (một lát cắt chạy dài từ nội đô lịch sử ra đến vùng ven nội đô).
Phố Hàng Bạc thuộc địa phận của phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm. Trước kia, phố Hàng Bạc có 3 nghề khác nhau gồm nghề đúc bạc nén, nghề kim hoàn và nghề đổi tiền. Song song với việc sản xuất, buôn bán, người ta còn đổi bạc nén lấy bạc vụn. Vì vậy, vào thời Pháp thuộc, phố này còn có tên tiếng Pháp là Rue de changeurs (phố Ðổi Bạc). Cả phố Hàng Bạc ngày nay chỉ dài khoảng 0,5km nằm theo hướng Đông - Bắc. Đầu phố phía Tây là ngã tư giáp với các phố Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Bồ, đầu phố phía Đông giáp với phố Hàng Mắm.
Phố Khâm Thiên thuộc phường Khâm Thiên và Thổ Quan, quận Đống Đa - nơi có mật độ dân số lớn nhất thành phố Hà Nội, với gần 37.869 người/km (Niên giám thống kê Thành phố Hà Nội 2021). Con phố dài khoảng 1,2km, bắt đầu từ phố Lê Duẩn - nơi đường tàu hỏa chạy qua đến ngã tư Tôn Đức Thắng - Nguyễn Lương Bằng (Ô Chợ Dừa). Con phố có tới 26 ngõ nhỏ, với mật độ dân cư và hàng quán đông đúc. Phố Khâm Thiên từng là con phố chuyên doanh với gần 200 cửa hàng may mặc và hơn 50 cửa hàng bán quần áo (Phan Thế Long, 2021).
Phố Quan Nhân thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân. Con phố có chiều dài khoảng 2,7km, kéo dài từ Cống Mọc (cầu Nhân Mục) chạy qua thôn Mọc, Quan Nhân, ra đến phố Vũ Trọng Phụng. Quan Nhân là một trong 4 thôn của xã Nhân Mục Môn thời trước. Tại Quan Nhân có đầy đủ các dịch vụ và các loại hình kinh doanh, tiêu biểu là các mặt hàng thực phẩm. Phố Quan Nhân có đặc thù là con phố được đô thị hóa từ làng nông thôn ven đô cũ nên trong quá trình phát triển vẫn lưu giữ những nét xưa cũ của làng quê, cùng với sự đan xen của các yếu tố hiện đại.
Tuyến phố Văn Quán thuộc Khu đô thị mới Văn Quán. Khu đô thị Văn Quán thuộc phường Văn Mỗ và Phúc La, quận Hà Đông, được khởi công xây dựng từ quý II/2003. Đến nay, khu đô thị trở thành một trong những điểm có vị trí đắt giá trong quần thể các khu đô thị được quy hoạch tại quận Hà Đông. Tuyến phố nghiên cứu giáp với hồ Văn Quán (hồ Than Thở) dài khoảng 0,7km. Đây là tuyến phố thuộc khu đô thị nên có mật độ dân cư tập trung đông với mức thu nhập cao, gồm các dãy nhà phố và biệt thự liền kề.
Đánh giá đặc trưng tuyến phố thương mại
Đặc trưng nhận diện tuyến phố
Về số lượng hàng quán và mật độ hàng quán: Do đặc thù phát triển ở khu vực trung tâm thương mại của Hà Nội từ lâu đời và với vị trí đắc địa cho các hoạt động kinh doanh, buôn bán, nên phố Hàng Bạc và Khâm Thiên có số lượng cửa hàng kinh doanh thương mại rất lớn, với tỷ lệ 96,6% ở Hàng Bạc và 90,5% ở Khâm Thiên. Trong khi đó, tỷ lệ này ở phố Quan Nhân là 80,5% và ở Văn Quán là 83,3%. Nếu tính về mật độ thì có thể nhận thấy sự khác biệt rõ ràng hơn, mật độ hàng quán so với chiều dài tuyến phố ở Hàng Bạc và Khâm Thiên (141 cửa hàng/km ở phố Hàng Bạc và 130 cửa hàng/km ở phố Khâm Thiên) cao hơn hẳn so với hai tuyến phố còn lại (với mật độ 41 cửa hàng/km ở phố Quan Nhân, và thấp nhất là phố Văn Quán với 21 cửa hàng/km). Điều này ít nhiều cho thấy khu vực vùng lõi nội đô lịch sử vẫn là khu vực hấp dẫn cho các hoạt động thương mại và giữ vai trò là trung tâm thương mại quan trọng của thành phố.
Về mặt hàng kinh doanh, mỗi một tuyến phố thương mại nghiên cứu có những đặc trưng riêng. Sự đa dạng hoặc chuyên doanh về một loại thương mại cũng là cách để thu hút và khiến cho khách hàng hoặc khách du lịch có thể nhận diện đến tuyến phố một cách dễ dàng hơn. Căn cứ vào kết quả khảo sát, nhóm tác giả phân tích được tỷ lệ các loại hình kinh doanh thương mại trên 4 tuyến phố nghiên cứu, thể hiện ở Table 2 sau:
Thống kê loại hình kinh doanh thương mại trên các phố nghiên cứu
(Đơn vị: hàng quán)
|
Vàng bạc, trang sức |
Ăn, uống |
Thời trang, may mặc |
Cơ khí, điện tử |
Trung tâm thương mại |
Khác | |
|
Phố Hàng Bạc |
96 |
17 |
07 |
03 |
0 |
18 |
|
Phố Khâm Thiên |
43 |
71 |
97 |
21 |
02 |
79 |
|
Phố Quan Nhân |
16 |
105 |
17 |
16 |
03 |
66 |
|
Phố Văn Quán |
0 |
27 |
0 |
0 |
0 |
03 |
Hàng Bạc là tuyến phố chuyên doanh về mặt hàng truyền thống là vàng, bạc (chiếm tỷ lệ 68,1% cửa hàng kinh doanh thương mại trên tuyến phố). Mặc dù hiện tại tuyến phố đã xuất hiện một số loại hình kinh doanh khác (ăn uống, dịch vụ du lịch) cho phù hợp với cuộc sống hiện đại, nhưng đây vẫn là một trong số ít các tuyến phố của khu phố cổ còn giữ được mặt hàng chuyên doanh lâu đời. Phố Khâm Thiên trước kia từng là tuyến phố chuyên doanh may mặc và bán quần áo. Cùng với quá trình phát triển kinh tế và xu hướng thị trường, con phố đã có nhiều thay đổi về loại hình hàng hóa kinh doanh thương mại. Tuy nhiên, do yếu tố lịch sử, đến nay vẫn có khoảng 31% cửa hàng trên phố bán quần áo thời trang. Bên cạnh đó, phố có đến 22,7% cửa hàng ăn uống và 13,7% cửa hàng vàng bạc, trang sức. Là tuyến phố phát triển từ không gian làng quê nông thôn ngoại thành xưa của Hà Nội nên phố Quan Nhân vẫn còn không gian thương mại cổ truyền (chợ) và thương mại có sự đa dạng xen lẫn. Trong đó, các hàng ăn vẫn chiếm tỷ lệ lớn (42,2%) chủ yếu phục vụ cho người dân địa phương và nhân viên văn phòng làm việc ở xung quanh. Nằm trong khu đô thị mới xây dựng từ năm 2003, phố Văn Quán tập trung phần lớn là các nhà hàng kinh doanh ăn uống, có khả năng chi trả giá thuê mặt bằng cao (90%), cùng tỷ lệ nhỏ cửa hàng khác phục vụ nhu cầu thiết yếu của cư dân xung quanh như cửa hàng cắt tóc, quầy thuốc, chăm sóc sắc đẹp (10%).
Về sự giãn nở của không gian thương mại, vào thời điểm trong tuần, đa phần các cửa hàng trên phố Hàng Bạc không có sự giãn nở vì đặc thù của mặt hàng thương mại chỉ kinh doanh trong nhà (vàng, bạc). Vào khung giờ sáng đầu tuần, tuyến phố thường có ít khách du lịch nên khá vắng vẻ. Ở phố Quan Nhân vào buổi sáng, các hoạt động thương mại chưa sôi động, nhưng ở khung giờ chiều tối đến tối (17h00 đến 21h30) hoạt động này có sự giãn nở ra phía ngoài vỉa hè (ở phía cuối phố) bởi các gánh hàng rong (hàng ăn) và các quán cà phê vỉa hè. Phố Khâm Thiên là tuyến phố tập trung lượng khách hàng đông nhất vào khung giờ từ 17h30 đến 19h00, không gian thương mại cũng giãn nở nhiều nhất vào thời điểm này. Trong khi đó, phố Văn Quán chủ yếu đông khách vào buổi tối (sau 20h00) vì xung quanh tuyến phố và quanh hồ đều kinh doanh hàng ăn và quán nước, thu hút được nhiều đối tượng tiếp cận.
Đến cuối tuần, không gian thương mại có sự chuyển biến khác biệt. Phố Hàng Bạc lúc này mới có sự giãn nở không gian thương mại (đối với hàng ăn, uống) vào khung giờ 8h30 đến 13h00 và từ 18h00 đến 21h00 nhờ có lượng khách du lịch ghé thăm phố cổ cuối tuần. Ở phố Khâm Thiên vào khung giờ 7h30 đến 9h00 và 17h00 đến 19h00, hoạt động thương mại (hàng ăn, quán nước, tạp hóa, đồ gia dụng) được mở rộng ra phía ngoài vỉa hè, lấn chiếm không gian đi bộ). Phố Quan Nhân vào cuối tuần chỉ giãn nở không gian thương mại ở cuối tuyến phố (quán cà phê, quán ăn), nơi giáp với đường Giáp Nhất do sự thiếu hụt lượng khách thường ngày là sinh viên, nhân viên văn phòng. Phố Văn Quán vào cuối tuần có số lượng khách hàng tập trung đông vào lúc 19h00 đến 22h00 tối vì tuyến phố có nhiều cửa hàng ăn, uống, không gian thương mại giãn nở chiếm gần hết không gian đi bộ hai bên đường. Những điều này cho thấy sự linh hoạt và “tính lỏng” của không gian thương mại. Thương mại cũng trở thành một hoạt động chức năng quan trọng, góp phần vào tính đa chức năng của vỉa hè, nơi thường chỉ được xem như không gian công cộng dành cho việc đi bộ của người dân. Đồng thời sự giãn nở của các không gian thương mại cho thấy sự chồng lấn giữa tính “công cộng” và “tư nhân” trong không gian đô thị.
Đối với kiến trúc nhà ở, phố Hàng Bạc đặc trưng với các ngôi nhà chồng diêm, nhà ống với chiều rộng mặt tiền khoảng 2-3m, các con ngõ nhỏ và hẹp. Phố Hàng Bạc vẫn còn một số nhà truyền thống lâu đời mang phong cách Việt cổ như căn nhà 47 Hàng Bạc (vừa bị phá hỏng do tai nạn giao thông vào cuối năm 2023), và một số căn nhà có kiến trúc kiểu Pháp (căn số 86, 98, 100, 114). Phố Khâm Thiên chủ yếu là các ngôi nhà ống cao tầng với màu sắc đa dạng, chiều rộng mặt tiền khoảng 4-5m. Đối với phố Quan Nhân thì hầu như cả phố đều là các nhà ống, với mặt tiền nhỏ hẹp. Một số nhà liền kề có diện tích lớn hơn nằm ở cuối phố. Phố Văn Quán thì nổi bật với các kiểu biệt thự đơn lập, song lập với chiều rộng mặt tiền có thiết kế theo kiểu giả châu Âu. Ở tuyến phố chủ yếu là các căn biệt thự đơn lập, song lập với diện tích rộng, mặt tiền lớn khoảng 8m nên không gian kinh doanh thương mại cũng lớn hơn. Ngoại trừ phố Văn Quán được xây dựng chủ yếu theo quy hoạch (thiết kế của chủ đầu tư), 3 tuyến phố còn lại được xây dựng bởi các hộ gia đình cá thể.
Đối với mỗi tuyến phố, địa điểm đặc trưng được coi là một trong những yếu tố giúp con người dễ dàng nhận biết tuyến phố và tăng cường tần suất tiếp cận đến tuyến phố. Trên tuyến phố Hàng Bạc có đến hai đền (đền Hàng Bạc, đền Nguyên Khiết) và một đình (đình Kim Ngân), thường kéo theo lượng cư dân đến đông đúc hơn cả vào những ngày đầu tháng, ngày rằm. Phố Khâm Thiên có chùa Linh Ứng, là nơi thờ cúng linh thiêng. Hằng tháng, người dân địa phương luôn ghé thăm cầu may mắn khiến cho tuyến phố thêm nhộn nhịp, đông đúc. Quan Nhân là tuyến phố có nhiều đình, chùa nhất với hai ngôi đình (đình Cự Chính, đình Hội Xuân), một chùa (chùa Bồ Đề) và một nhà bia tưởng niệm liệt sĩ. Người dân xung quanh cũng tận dụng điều này để kinh doanh đồ lễ phục vụ cho du khách tới thăm (hương, hoa quả, lễ, đồ pháp phục). Khác với 3 tuyến phố được hình thành lâu đời, tuyến phố Văn Quán không có địa điểm đặc trưng bởi đây là tuyến phố nằm trong khu đô thị mới quy hoạch (Figure 1).
Khả năng tiếp cận giao thông
Mật độ giao thông tuyến phố: Trong thực tế, giao thông tuyến phố cũng ảnh hưởng lớn đến các hoạt động thương mại. Vào những khung giờ đông đúc, việc ùn tắc trên đường phố sẽ khiến cho khách hàng gặp khó khăn và thiếu an toàn khi tiếp cận đến tuyến phố để mua sắm. Theo khảo sát thực tế cho thấy, đối với tuyến phố Hàng Bạc, Khâm Thiên, Quan Nhân vào những giờ cao điểm trong tuần như khung giờ sáng (7h00-8h00) và chiều tối (17h30-19h00) thì số lượng xe đông đúc do nằm ở khu vực trung tâm dân cư đông đúc, lại kết nối với nhiều tuyến đường lớn, trọng điểm, nên không gian chật chội hơn so với những ngày cuối tuần. Riêng đối với phố Văn Quán, do nằm ở xa trung tâm hơn và trong khuôn viên khu biệt thự khá yên tĩnh kể cả vào các khung giờ cao điểm, do đó việc đi lại và tiếp cận đến tuyến phố khá an toàn, thoải mái. Kết hợp với kết quả phỏng vấn xã hội học trực tuyến với người dân Hà Nội về mức độ hài lòng đối với việc di chuyển (tiếp cận giao thông, chất lượng đường sá), điểm trung bình kết quả cho thấy phố Văn Quán được đánh giá là tiếp cận giao thông dễ dàng và chất lượng đường sá tốt nhất (4,29/5), sau đó đến phố Hàng Bạc (2,99/5), Khâm Thiên (2,5/5). Phố Quan Nhân được người dân đánh giá “ít” thuận tiện di chuyển nhất (1,77/5) bởi tuyến phố nhỏ và dài, lòng đường hẹp hơn và dễ ùn tắc hơn so với các tuyến phố còn lại.
Không gian đi bộ: Vỉa hè là không gian di chuyển của người đi bộ, giúp con người tiếp cận tới nhiều địa điểm khác nhau, đồng thời phải đảm bảo tính an toàn đối với người đi bộ. Vỉa hè phố Hàng Bạc chỉ rộng khoảng 1,7m, gần như có rất ít không gian cho người đi bộ, bởi phần lớn không gian vỉa hè đã được sử dụng cho không gian dựng xe máy trước các cửa hàng, và các gánh hàng rong. Vỉa hè phố Khâm Thiên mặc dù vừa hoàn thành xong quá trình tu sửa, nhưng chiều rộng vỉa hè không đều, chỗ hẹp 2-4m, có chỗ rộng 5-8m. Buổi sáng vỉa hè dùng để bán hàng rong, để xe máy, đồ ăn sáng,... còn vào buổi tối, lượng xe máy để trên vỉa hè của phố còn đông hơn vì vỉa hè lúc này là nơi để xe của các quán ăn, quán nước, các gánh hàng rong,... Mặt khác, các cửa hàng ăn uống thời trang còn đặt các tấm biển quảng cáo bên ngoài vỉa hè hoặc treo biển lấn chiếm lối đi, khiến cho không gian tuyến phố bị thu hẹp đi. Ở phố Quan Nhân (đoạn nối từ đường Vũ Trọng Phụng đến tòa nhà Ban Cơ yếu Chính phủ) không có vỉa hè hoặc vỉa hè rất hẹp, khiến cho tuyến phố trở nên mất an toàn hơn. Các nhà bán hàng tạp hóa, sửa chữa để lấn đồ ra ngoài vỉa hè, đặt biển hiệu ngoài vỉa hè, làm không gian đi bộ bị thu hẹp. Bên cạnh đó, nhiều cửa hàng ở đây lắp đặt biển hiệu cả ở trước mặt nhà và ở ngoài vỉa hè, xâm chiếm nhiều không gian vốn dĩ đã chật hẹp của vỉa hè. Phố Văn Quán có hai lối vỉa hè: vỉa hè trước mặt tiền và lối vỉa hè giáp hồ nhưng cũng không có không gian cho người đi bộ do vỉa hè để xe máy, quán nước, hàng rong (hoa quả, đồ ăn sáng), vỉa hè cũng là chỗ đặt biển hiệu quán nước và quán nướng khá lớn, gây chiếm dụng không gian. Thực tế, những thách thức này khiến cho việc tiếp cận tới tuyến phố trở nên khó khăn hơn, làm giảm đi phần nào tính an toàn đối với các tuyến phố.
Môi trường - cảnh quan
Môi trường không khí và chất thải rắn: Phố Quan Nhân có khu tập kết rác với diện tích lớn và một số khu tập kết rác nhỏ xung quanh; điều này gây ô nhiễm không khí, đặc biệt ảnh hưởng đến các cửa hàng nằm xung quanh khu tập kết rác và khu nhà ở bên cạnh. Theo như kết quả phỏng vấn, Quan Nhân bị đánh giá có chất lượng môi trường kém nhất (1,68/5). Các tuyến phố Hàng Bạc, Khâm Thiên và Văn Quán không có điểm tập kết rác chung nên không gặp tình trạng này. Rác thải rắn ở từng cửa hàng và hộ gia đình mặt phố được thu gom gọn gàng, ít tình trạng người dân xả rác bừa bãi ra phố. Theo đánh giá của người được khảo sát, phố Hàng Bạc và Văn Quán được đánh giá có chất lượng không khí tốt hơn so với hai tuyến phố còn lại (4,05/5 và 4,4/5). Phố Khâm Thiên và phố Quan Nhân gặp tình trạng ô nhiễm khói bụi, ô nhiễm âm thanh lớn hơn cả, đặc biệt vào các khung giờ cao điểm do tình trạng giao thông đông đúc.
Mật độ cây xanh trong tuyến phố cũng phản ánh được phần nào chất lượng môi trường và cảnh quan tuyến phố. Đối với các tuyến phố khảo sát, phố Hàng Bạc có số lượng cây cối thưa thớt, cách ba đến năm nhà mới có một cây, chủ yếu là cây bằng lăng. Cây xanh ở phố Khâm Thiên chủ yếu là cây bàng lá nhỏ và phân bố khá đồng đều dọc tuyến phố. Phố Quan Nhân có rất ít cây xanh (trừ một số điểm có cây đa, cây sấu được trồng từ lúc nơi đây còn là khu dân cư nông thôn,...), chủ yếu rải rác gần khu tập kết rác, gần đình, gần hồ,... Phố Văn Quán là tuyến phố có nhiều cây xanh (cây lộc vừng) và không gian xanh nhất phân bố đồng đều, rải rác khắp tuyến đường xung quanh hồ, trước các căn biệt thự nhìn ra hồ; các cây có tán lá rộng, có khả năng che nắng,... (xem Figure 1).

Vị trí cây xanh và các địa điểm đặc trưng trên các tuyến phố nghiên cứu [Nguồn: Tác giả]
Tính thẩm mỹ của không gian đi bộ: Không gian vỉa hè của phố Hàng Bạc rất hẹp nhưng chủ yếu làm chỗ đỗ của các phương tiện giao thông và các gánh hàng rong, điều này phần nào làm mất đi mỹ quan của tuyến phố. Vỉa hè phố Khâm Thiên chủ yếu là nơi để xe của các quán ăn, quán nước và gánh hàng rong. Vì là tuyến phố buôn bán nhiều về thời trang, may mặc nên biển hiệu đa dạng, kích cỡ to, nhiều kiểu dáng, đồng thời có nhiều biển quảng cáo có ánh sáng led, điều này không chỉ khiến không gian đi bộ trở nên chật hẹp mà còn khiến cho tuyến phố trở nên lộn xộn và thiếu tính thẩm mỹ hơn. Phố Quan Nhân là tuyến phố không có vỉa hè, đoạn có vỉa hè thì khoảng cách rất chật hẹp. Hoạt động buôn bán của tuyến phố đa dạng, nhiều loại mặt hàng với các loại biển quảng cáo khác nhau nên tuyến phố trở nên lộn xộn, mất thẩm mỹ. Đồng thời, tuyến phố xuất phát từ một ngôi làng đô thị hóa nên cảnh quan vẫn còn mang nhiều nét truyền thống, đan xen hiện đại. Phố Văn Quán là tuyến phố mới, được xây dựng trong khu đô thị nên được đầu tư về cảnh quan hơn so với các tuyến phố còn lại. Xung quanh lối đi bộ là hàng cây lộc vừng không chỉ giúp điều hòa khí hậu mà còn tăng tính thẩm mỹ cho tuyến phố. Mặc dù là tuyến phố có hai lối đi bộ nhưng không gian này đang bị chiếm dụng bởi các mặt hàng kinh doanh. Điều này giảm đi phần nào vẻ đẹp vốn có của tuyến phố. Hàng rong tại Hà Nội được ví như một nét đẹp cổ xưa, nhưng việc quản lý không hiệu quả khiến cho sự xuất hiện của các gánh hàng rong trở nên thiếu tính thẩm mỹ, lộn xộn, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho các tuyến phố. Các gánh hàng rong xuất hiện nhiều ở các phố Hàng Bạc, Khâm Thiên và Quan Nhân, vừa chiếm dụng không gian vỉa hè vốn dĩ đã chật hẹp bởi hoạt động để xe máy và bày hàng hóa của các cửa hàng mặt phố, đồng thời lại khiến cho giao thông bị ảnh hưởng. Đối với tuyến phố tại phố Văn Quán thì số lượng gánh hàng rong xuất hiện ít hơn so với 3 phố còn lại do tuyến phố này nằm trong khu đô thị mới, có sự kiểm soát chặt chẽ hơn của ban quản lý và ban quản trị khu đô thị.
Những thách thức trong quản lý đô thị
Các tuyến phố thương mại đã nghiên cứu thể hiện phần nào đặc trưng của các tuyến phố thương mại ở Hà Nội. Từ vùng lõi lịch sử ra đến khu vực mới đô thị hóa, các tuyến phố thương mại vừa có những điểm hạn chế chung, nhưng cũng vừa tạo nên những thách thức riêng trong quản lý đô thị. Những hạn chế và thách thức này được tổng hợp trong Table 3.
Những hạn chế và thách thức trong công tác quản lý các tuyến phố nghiên cứu
|
Đặc trưng nhận diện tuyến phố |
Khả năng tiếp cận tuyến phố |
Môi trường - cảnh quan tuyến phố | |
|
Phố Hàng Bạc |
- |
- Làn đường hẹp, xe cộ đông đúc vào những ngày cuối tuần; - Vỉa hè chật hẹp, xe máy, hàng rong lấn chiếm hầu hết các không gian đi bộ. |
- Cây xanh có kích thước bé, nhiều loại cây, phan bố thưa thớt; - Nhiều loại biển hiệu khác nhau gây cảnh quan lộn xộn, mất trật tự. |
|
Phố Khâm Thiên |
- Các hoạt động thương mại lấn chiếm hầu hết vỉa hè. |
- Thường xuyên tắc đường, xe cộ đông đúc; - Vỉa hè chật hẹp, các loại phương tiện giao thông và hàng rong lấn chiếm không gian đi bộ; nhiều biển hiệu kích thước lớn lấn vỉa hè. |
- Tuyến phố có đa dạng các loại biển hiệu, xe cộ đông đúc, khiến cho cảnh quan lộn xộn. |
|
Phố Quan Nhân |
- Các hoạt động thương mại thường xuyên lấn chiếm ra ngoài làn đường đi lại. |
- Dân cư đông đúc, có chợ truyền thống và buôn bán các mặt hàng thiết yếu nên tuyến phố thường xuyên ùn tắc. |
- Cây xanh thưa thớt, kích cỡ to nhỏ đa dạng, phân bố không đồng đều; - Khu tập kết rác gần khu dân cư làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống người dân và hạn chế mức độ tiếp xúc của người dân đến tuyến phố. |
|
Phố Văn Quán |
- Các hoạt động thương mại lấn chiếm vỉa hè. |
Vỉa hè rộng, thoáng nhưng bị các cửa hàng lấn chiếm làm nơi buôn bán, xe máy để tràn lan trên vỉa hè khiến cho không gian đi bộ bị thu hẹp đáng kể. |
- Môi trường nước bị ô nhiễm, khiến cho cư dân không cảm thấy thoải mái khi đi dạo và mua sắm trên tuyến phố. |
Qua bảng tổng hợp trên, ta có thể nhận thấy một trong những thách thức lớn đối với quản lý đô thị Hà Nội hiện nay, đó là chất lượng không gian đi bộ của các tuyến phố thương mại. Các tuyến phố thương mại hiện nay thiếu đi sự hấp dẫn (phố Quan Nhân, Văn Quán), chưa đảm bảo sự an toàn và thoải mái cho người đi bộ (phố Hàng Bạc, phố Khâm Thiên, phố Quan Nhân, phố Văn Quán), và cho cả người tham gia giao thông qua tuyến phố (phố Khâm Thiên, phố Quan Nhân). Cây xanh đường phố mang lại nhiều lợi ích đối với người dân đô thị nhưng hiện nay cây xanh phân bố không đồng đều, thưa thớt ở hai tuyến phố Hàng Bạc và Quan Nhân.
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 4 tuyến phố nghiên cứu đều có những nét đặc trưng riêng biệt về độ nhận diện tuyến phố, giao thông tuyến phố và điều kiện môi trường - cảnh quan tuyến phố. Các phố trung tâm như Hàng Bạc, Khâm Thiên có tính chuyên doanh và mật độ cửa hàng thương mại cao hơn rõ rệt, với sự xen lẫn của các di tích văn hóa và những ngôi nhà mang kiến trúc độc đáo xưa; phố Quan Nhân được phát triển từ con đường làng nông thôn cũ, nên có những đoạn đường không có vỉa hè hoặc vỉa hè hẹp, thường xuyên ùn tắc và gây sự thiếu an toàn cho người đi bộ; phố Văn Quán nằm trong khu đô thị mới, mới được quy hoạch xây dựng trong khoảng 20 năm trở lại đây nên kiến trúc nhà ở mang tính quy hoạch từ trên xuống, có không gian xanh đặc trưng, vỉa hè và lòng đường khá rộng nên dễ dàng tiếp cận.
Từ những đặc trưng và hạn chế của các tuyến phố thương mại trên, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị phục vụ quản lý các tuyến phố thương mại ở Hà Nội như sau: Bảo tồn chặt chẽ các di tích, các nhà ở còn giữ được kiến trúc độc đáo (Hàng Bạc, Khâm Thiên); Quy định cụ thể đối với hệ thống biển hiệu các cửa hàng để đảm bảo sự đồng bộ, không gây ô nhiễm thị giác và lộn xộn, lấn chiếm không gian vỉa hè; Quy định và quản lý hiệu quả việc lấn chiếm vỉa hè để trưng bày hàng hóa của các cửa hàng dọc tuyến phố, các gánh hàng rong (Khâm Thiên, Văn Quán); Quy hoạch lại để tạo và mở rộng vỉa hè cho một số đoạn thuộc tuyến phố Quan Nhân, cung cấp không gian đi bộ an toàn và bổ sung không gian xanh cho người sử dụng; Quy hoạch lại khu tập kết rác ở xa khu dân cư, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường tuyến phố (Quan Nhân); Nâng cấp và khuyến khích hệ thống giao thông công cộng, tăng cường phân luồng giao thông để giảm thiểu ùn tắc trong các khung giờ cao điểm và hạn chế được lượng xe để trên vỉa hè;
LỜI CẢM ƠN
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn Hà Thị Thu Trang, Phùng Thị Liễu, Nguyễn Công Tuấn vì đã cùng tham gia khảo sát và thực hiện nghiên cứu này.
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
Bài nghiên cứu không có xung đột lợi ích.
ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC GIẢ
-
Dương Thị Vân Anh: Khảo sát thực địa, xử lý số liệu và viết bản thảo
-
Nguyễn Thị Hà Thành: Lên ý tưởng bài viết, hướng dẫn khảo sát, viết và chỉnh sửa bản thảo
-
Phạm Sĩ Dũng: Lên ý tưởng bài viết, hướng dẫn khảo sát, viết và chỉnh sửa bản thảo